- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "chị Cười xin ly hôn anh Quyết"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/02/2023 V/v v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Hoàng Văn M.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Mạnh S.
Bà Nguyễn Thị Vân A.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến Kiên- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị C, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khu An Thọ, xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
(Chị Cười vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Kiên Q, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu An Thọ, xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
(Anh Quyết vắng mặt lần thứ hai không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lý Thị C trình bày tại đơn khởi kiện và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Kiên Q tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 13/3/2018, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó đến tháng 2 năm 2019 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng đã sống sống ly thân nhau từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể trở về đoàn tụ được nữa đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Kiên Q.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Ch, sinh ngày 18/7/2018. Sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung kể từ khi ly hôn đến khi con đã thành niên và tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Kiên Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Kiên Q: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông qua ông Nguyễn Văn T (Ông T là anh trai ruột của bố đẻ anh Q, bố mẹ anh Q đều chết năm 1995, anh Q do ông T trực tiếp nuôi dưỡng và sinh sống cùng gia đình ông Toàn) theo quy định của pháp luật gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Ông Nguyễn Văn T cho biết: Hiện nay anh Nguyễn Kiên Q đi làm ăn không thường xuyên có mặt ở nhà, ông đại diện gia đình nhận thay anh Q các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt cho anh Q, ông cho biết anh Q đã biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Lý Thị C, nhưng vì lý do công việc nên anh Q không đến Tòa án để giải quyết ly hôn được.
- Tại giấy xác nhận thông tin về cư trú số 61/XN ngày 12/12/2022 của Công an xã Xuân An xác định: Hiện nay anh Nguyễn Kiên Q vẫn có hộ khẩu thường trú tại khu An Thọ, xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ và không có đăng ký tạm trú ở nơi khác.
- Tại biên bản xác minh ngày 26/12/2022 Ủy ban nhân dân xã Xuân An cho biết: Chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 13/3/2018, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay. Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết vụ án.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án. Bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã lập thủ tục cấp, tống đạt, thông báo đầy đủ văn bản tố tụng, đúng quy định pháp luật cho phía bị đơn.
Về nội dung vụ án đề xuất hướng giải quyết như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, điểm a,b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử cho chị Lý Thị C được ly hôn anh Nguyễn Kiên Q.
Về con chung: Giao cho chị Lý Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Ch, sinh ngày 18/7/2018. Anh Nguyễn Kiên Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lý Thị C (do chị Lý Thị C tự nguyện không yêu cầu).
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Lý Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lý Thị C là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, chị C có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Lý Thị C, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ cho anh Nguyễn Kiên Q các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174, 175 và 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự vì lý do anh Nguyễn Kiên Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do và chị Lý Thị C cũng có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải theo khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Kiên Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có quan điểm của bị đơn đối với nguyên đơn. Chị Lý Thị C vắng mặt, tuy nhiên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a,b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân An, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 13/3/2018, đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Lý Thị C xác định nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể trở về đoàn tụ được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Kiên Q. Đối với anh Nguyễn Kiên Q trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt. Ngày 26/12/20222 Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương và được đại diện gia đình anh Nguyễn Kiên Q là ông Nguyễn Văn T cho biết anh Nguyễn Kiên Q có quan điểm nhất trí ly hôn với chị Lý Thị C.
Ngày 26/12/2022 Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q được đại diện Uỷ ban nhân dân xã Xuân An cho biết chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay.
Xét thấy: Chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q đã sống ly thân nhau trong một thời gian dài từ năm 2019 đến nay, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên việc chị Lý Thị C xin ly hôn anh Nguyễn Kiên Q là có căn cứ, đúng thực tế phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thị C, xử cho chị Lý Thị C được ly hôn anh Nguyễn Kiên Q.
Về con chung: Chị Lý Thị C và anh Nguyễn Kiên Q có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Ch, sinh ngày 18/7/2018, sau ly hôn chị Lý Thị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Kiên Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Xét thấy: Anh Nguyễn Kiên Q không có mặt tại Tòa án nên không có quan điểm về nuôi con chung, nên cần giao cho chị Lý Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung kể từ khi ly hôn và anh Nguyễn Kiên Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lý Thị C là phù hợp với quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thị C.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Lý Thị C không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lý Thị C là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình .
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, điểm a,b khoản 1 Điều 238, khoản 1 điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị C.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị C được ly hôn anh Nguyễn Kiên Q.
Về con chung: Giao cho chị Lý Thị C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Ch, sinh ngày 18/7/2018, kể từ khi ly hôn. Anh Nguyễn Kiên Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Lý Thị C (Do chị Lý Thị C tự nguyện không yêu cầu). Anh Nguyễn Kiên Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị Lý Thị C cùng các thành viên gia đình không được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị Lý Thị C không đề nghị Tòa án giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Lý Thị C được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Lập; - Chi cục THADS huyện Yên Lập; - UBND xã Xuân An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. luật. ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn M Về án phí: Chị Hoàng Thị Bích Hằng được miễn án phí theo quy định của pháp Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Mẫu |