vanban.org

Bản án 07/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 08/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Buôn bán hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 07/2019/HS - ST
Ngày 08 - 4 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Khánh; Ông Lê Anh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2019/TLST - HS ngày 25/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST - HS ngày 22/02/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/HSST - QĐ ngày 08/3/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L; sinh ngày 20/6/1978 tại xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Xóm M, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết S, sinh năm 1944 và bà Phan Thị T, sinh năm 1945; Vợ: Trần Thị S, sinh năm 1979; Con: 02 đứa, lớn 15 tuổi, nhỏ 13 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 25/12/2018, bị khởi tố bị can ngày 27/12/2018, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xóm M, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 27/12/2018 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị S; sinh năm: 1979, địa chỉ: xóm M, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Đinh Tiến S; sinh năm: 1967, địa chỉ: xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1950, địa chỉ: xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tin báo của quần chúng nhân dân nên vào lúc 18 giờ ngày 24/12/2018 trên đường B thuộc địa bàn thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Công an huyện H đã tiến hành bắt quả tang Nguyễn Văn L, sinh ngày 20/6/1978 trú tại xóm M, xã T, huyện H điều khiển xe mô tô Wave RSX biển kiểm soát 38P1 - 17.781 đang có hành vi vận chuyển hàng cấm (Pháo) với mục đích bán lại cho người khác lấy lời, thu giữ 01 bì xác rắn bên trong đựng 09 khối hộp giấy, kích thước mỗi khối hộp (14x14x9,5)cm, có hoa văn nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài; 03 vật hình trụ được cất dấu trong cốp xe, mỗi vật có kích thước dài 18,8cm, đường kính 4cm, bọc giấy hoa văn nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài, Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản niêm phong, đưa tang vật và đối tượng về trụ sở Công an huyện H để giải quyết.

Theo kết luận giám định số 60/GĐP - PC09 ngày 26/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 09 khối hộp giấy ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và có chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (14x14x9,5)cm, trong khối hộp có 36 vật hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định có khối lượng 11kg và 03 vật hình trụ, ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, đường kính mỗi vật 4cm, dài 18,8cm, gửi giám định có khối lượng 0,54kg là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai nhận: Vào khoảng tháng 10 năm 2018 L đi đám giỗ ở nhà bà Nguyễn Thị V ở cùng xóm thì gặp một người đàn ông có tên là P trú tại xã K, huyện M, tỉnh Quảng Bình, hai người trò chuyện, trao đổi thì P nói với L “Ở ngoài này có ai mua pháo không, mày xem rồi tao để lại cho mà bán”, L hỏi “Bán như thế nào” P trả lời “Một hộp pháo là 400.000 đồng (loại 36 quả), mày bán lại bao nhiêu thì tùy mày”, L đồng ý và trao đổi số điện thoại với P. Ngày 23/12/2018, khi L đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi qua trang cá nhân facebook của một người đàn ông có tài khoản facebook là Thiếu Gia L hỏi mua 09 hộp pháo và 03 ống pháo, L đồng ý và thống nhất giá mỗi hộp pháo là 600.000 đồng, mỗi ống pháo là 200.000 đồng. Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2018 L gọi điện thoại cho P hỏi mua pháo, P đồng ý và thống nhất giá mỗi hộp pháo là 400.000 đồng, mỗi ống pháo là 150.000 đồng rồi bảo L đến gặp một người lái xe ô tô đầu kéo ở bãi đá thạch cao thuộc xóm N, xã T, huyện H để nhận pháo. Sau khi tìm được mối mua hàng, L gọi lại cho người mua qua facebook hẹn thời gian và địa điểm giao hàng tại khu vực cửa hàng xăng dầu thuộc thôn N, xã T, huyện H. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô Wave RSX biển kiểm soát 38P1-17.781 đến khu vực bãi đá thạch cao gặp một người đàn ông lái xe ô tô đầu kéo, người đó hỏi L “Mi lấy pháo cho thằng L à?” L trả lời đúng thì người này đưa cho L 01 bì xác rắn màu vàng bên trong đựng 09 hộp pháo và 01 túi bóng đen đựng 03 ống pháo. Sau khi nhận pháo L để 09 hộp pháo ở gác ba ga giữa và bỏ 03 ống pháo vào cốp xe rồi điều khiển xe theo đường B chở pháo đi ra xã T, huyện H, lúc 18 giờ, khi đi đến khu vực trước cửa hàng xăng dầu thuộc thôn N, xã T thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 09 hộp pháo, mỗi hộp có kích thước (14x14x9,5)cm, có khối lượng là 11kg, đã lấy 02 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 09 khối hộp với khối lượng 0,08kg để giám định, còn lại 10,92kg; 03 ống pháo với khối lượng 0,54kg đường kính mỗi vật 4cm, dài 18,8cm, đã lấy 01 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 03 vật hình trụ, khối lượng mẫu vật lấy để giám định là 0,18kg để giám định, còn lại 0,36 kg; 01 chiếc điện thoại màu đen, nhãn hiệu OPPO A51 watch; 01 chiếc xe mô tô Wave RSX màu đỏ đen biển kiểm soát 38P1 - 177.81 có trị giá 10.000.000 đồng là phương tiện L dùng để đi thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe này có giấy tờ tên chị Trần Thị S (Vợ của L).

Các vật chứng trên đã được Cơ quan Điều tra Công an huyện H chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản, quản lý.

Tại Bản Cáo trạng số 04/CT - VKS - HK ngày 23/01/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng; đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không kêu oan, bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối cải, xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 18 giờ ngày 24/12/2018 trên đường B thuộc địa bàn xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Công an huyện H bắt quả tang Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô Wave RSX biển kiểm soát 38P1 - 17.781 đang vận chuyển 09 hộp pháo có trọng lượng 11kg và 03 ống pháo có trọng lượng 0,54kg, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, nhằm mục đích buôn bán.

Tổng trọng lượng pháo bị thu giữ là 11,54kg và quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận mục đích mua pháo là để bán lại cho người khác để kiếm lời. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 04/CT - VKS - HK ngày 23/01/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại Phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố là ông Nguyễn Viết S có Huy chương kháng chiến hạng nhất, có mẹ là bà Phan Thị T có Huy chương kháng chiến hạng nhì; Bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn và xin cải tạo tại địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét về tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và xét bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương là phù hợp.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh truy tố, đề nghị mức hình phạt, xử lý vật chứng, án phí….. là có căn cứ và phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 09 hộp pháo, mỗi hộp có kích thước (14x14x9,5)cm, có khối lượng là 11kg, đã lấy 02 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 09 khối hộp với khối lượng 0,08kg để giám định, còn lại 10,92kg; 03 vật hình trụ khối lượng 0,54kg đường kính mỗi vật 4cm, dài 18,8cm, đã lấy 01 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 03 vật hình trụ, khối lượng mẫu vật lấy để giám định là 0,18kg để giám định, còn lại 0,36 kg, là đối tượng nhà nước cấm kinh doanh, do đó cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 chiếc điện thoại màu đen, nhãn hiệu OPPO A51 watch, có gắn sim số 0966192173 là phương tiện bị cáo dùng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô Wave RSX màu đỏ đen biển kiểm soát 38P1 - 177.81 có trị giá 10.000.000 đồng là phương tiện L dùng để đi thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định chiếc xe này có giấy tờ tên chị Trần Thị S (Vợ của bị cáo), chiếc xe này chị S được bố đẻ là ông Trần Văn L cho riêng chị S, để làm phương tiện đi lại. Khi bị cáo lấy chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội thì chị S hoàn toàn không biết do đó cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho chi S chiếc xe mô tô này.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Văn L khai mua pháo của một người đàn ông tên P, ở xã K, huyện M, tỉnh Quảng Bình thông qua người đàn ông lái ô tô xe đầu kéo. Cơ quan Điều tra đã Pi hợp với Cơ quan Điều tra Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình tiến hành điều tra xác định đối tượng có tên là Đinh Xuân P, sinh năm 1975 trú tại thôn Đ, xã K, huyện M, tỉnh Quảng Bình, hiện P không có mặt tại địa phương, chỉ duy nhất lời khai của L thì chưa đủ căn cứ để xử lý P, đối với người đàn ông lái xe ô tô đầu kéo đưa pháo cho L ở khu vực bãi đá thạch cao thuộc xóm P, xã T và người có tài khoản facebook là “Thiếu gia L”, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được, khi nào điều tra làm rõ được sẽ xem xét xử lý các đối tượng sau.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Buôn bán hàng cấm.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 09 hộp pháo, mỗi hộp có kích thước (14x14x9,5)cm, có khối lượng là 11kg, đã lấy 02 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 09 khối hộp với khối lượng 0,08kg để giám định, còn lại 10,92kg; 03 vật hình trụ khối lượng 0,54kg đường kính mỗi vật 4cm, dài 18,8cm, đã lấy 01 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 03 vật hình trụ, khối lượng mẫu vật lấy để giám định là 0,18kg để giám định, còn lại 0,36 kg;

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 chiếc điện thoại màu đen, nhãn hiệu OPPO A51 watch, có gắn sim số 0966192173.

- Trả lại cho chị Trần Thị S 01 mô tô Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 38P1 - 177.81, có số khung RLHJC5245035858 và số máy JCS2E6052228.

(Tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 14/01/2019 và ngày 21/01/2019 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục THADS huyện H).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ