vanban.org

Bản án 06/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5; khoản 6 - Điều 27 -Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Minh T. Về con chung: Giao cháu Hồ Nguyễn Vương A, sinh ngày 24/9/2017 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Hảo - Thái"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5; khoản 6 - Điều 27 -Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 -BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2026/HNGĐ-ST
Ngày 16/01/2026
V/v “Ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bào

Ông Nguyễn Ngọc Trứ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 -Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện VKSND Khu vực 2 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 -Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 207/2025/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2025,giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 26/02/1995 ( có mặt)

Cư trú tại: Thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh

* Bị đơn: Anh Hồ Minh T, sinh ngày 21/9/1993 ( vắng mặt)

Cư trú tại: Thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Minh T kết hôn với nhau ngày 21/9/2016, trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, không có mâu thuẫn. Đến năm 2018, anh T đi làm ăn ở Nhật Bản thì vợ chồng đã có thời gian sống xa cách, trong thời gian anh T làm ăn bên nước ngoài thì hai bên vẫn liên lạc. Đến năm 2023, thì anh T về nước sinh sống thì phát sinh mâu thuẫn tình cảm vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T có tình cảm với người khác, ngoài ra còn đánh đập chị nhiều lần. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6 năm 2025 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân thì hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn anh T.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Hồ Nguyễn Vương A, sinh ngày 24/9/2017, hiện nay con chung đang ở với chị từ nhỏ cho đến nay. Khi ly hôn, chị xin được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện nay chị đang làm cô giáo mầm non, thu nhập trung bình 10.000.000 đồng/tháng, thời gian làm trong ngày, giờ hành chính, không làm đêm. Chị xác định đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

-Về tài sản chung, tài sản riêng; công sức; công nợ chung, nhà ở, quyền sử dụng đất; ruộng đất và các vấn đề khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình

* Bị đơn anh Hồ Minh T trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau ngày 21/9/2016, trước khi kết hôn vợ chồng được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Trong quá trình chung sống tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, không có mâu thuẫn. Đến năm 2018, thì anh đi làm ăn ở Nhật Bản thì vợ chồng đã có thời gian sống xa cách, trong thời gian anh T làm ăn bên nước ngoài thì hai bên vẫn liên lạc, đến năm 2023 thì anh T về nước sinh sống thì hai vợ chồng có phát sinh mâu một số thuẫn giữa hai vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2025 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị H xin được ly hôn thì anh không đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Hồ Nguyễn Vương A, sinh ngày 24/9/2017, hiện nay con chung đang ở với chị H từ nhỏ cho đến nay. Do anh xác định tình cảm vẫn còn nên anh không yêu cầu giải quyết.

-Về tài sản chung, tài sản riêng; công sức; công nợ chung, nhà ở, quyền sử dụng đất; ruộng đất và các vấn đề khác: Nếu như chị H nhất quyết đề nghị giải quyết thì anh đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà anh T vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 -Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn chấp hành chưa tốt.

- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Minh T.

2. Về con chung: Giao cháu Hồ Nguyễn Vương A, sinh ngày 24/9/2017 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Vấn đề cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không yêu cầu xem xét, giải quyết.

3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002789 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ngày 31 tháng 10 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2-Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Hồ Minh T có nơi cư trú tại thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về tố tụng: Anh Hồ Minh T vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt là có căn cứ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Minh T xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã T, tỉnh Bắc Ninh), làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng là hôn nhân hợp pháp (Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình). Căn cứ vào lời khai của hai bên, biên bản làm việc với địa phương thì Hội đồng xét xử, xét thấy: Chị H và anh T sau khi về chung sống thời gian đầu chung sống bình thường, sau đó do anh T đi làm ăn xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên hai bên có thời gian sống xa cách về địa lý. Năm 2023, anh T về nước thì hai bên có phát sinh mâu thuẫn dẫn đến hai bên đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2025 cho đến nay. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T xác định vẫn còn tình cảm. Mặc dù anh T xác định vẫn còn tình cảm, nhưng bản thân anh lại không có biện pháp cải thiện tình cảm nào tích cực, không không lên Toà án để làm việc. Như vậy, xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung của chị H và anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Minh T xác định có 01 con chung là cháu Hồ Nguyễn Vương A, sinh ngày 24/9/2017. Hiện con chung đang ở cùng chị H từ nhỏ, sức khoẻ con chung phát triển tốt. Khi ly hôn chị H xin được nuôi con chung. Xét về điều kiện, thời gian chăm sóc, kinh tế của hai bên và để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung và xét theo nguyện vọng của con chung và chị H nên cần giao con chung cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Vấn đề cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí:

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002789 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điểm a khoản 5; khoản 6 - Điều 27 -Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Minh T.

2. Về con chung: Giao cháu Hồ Nguyễn Vương A, sinh ngày 24/9/2017 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vấn đề cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không yêu cầu xem xét, giải quyết.

3. Về công nợ, tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002789 ngày 31/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo:

-Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

-Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ