vanban.org

Bản án 06/2025/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T đối với bị đơn Công Ty TNHH Đ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.

Công Ty TNHH Đ có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH MTV T số tiền nợ gốc là: 266.279.068 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi suất tính từ ngày 19/9/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/3/2025 là 39.941.860 đồng (Ba mươi chín triệu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T đối với bị đơn Công Ty TNHH Đ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/KDTM-ST
Ngày: 31/3/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯƠC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thanh phân Hôi đông xet xư sơ thâm gôm co:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bồ Quốc Khánh;

2. Ông Võ Minh Phụng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Phúc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đai diên Viên Kiêm sat nhân dân huyên Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú- Kiêm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2024/TLST-KDTM ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐHPT-KDTM ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV T, địa chỉ: Đường H, khu đô thị M, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do bà Hồ Lê H, chức vụ: Giám đốc làm đại diện theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp: Bà Thái Thị N, sinh năm 1991, địa chỉ: 1 B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 22/10/2024). Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Công Ty TNHH Đ, địa chỉ: Thửa đất số 11 tờ bản đồ số 68, ấp B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dương. Do bà Đinh Thị Tuyết M, chức vụ: Giám đốc làm đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình hòa giải, nguyên đơn Công ty TNHH MTV T1 bà Thái Thị N- làm đại diện, trình bày:

Trong năm 2022, Công ty TNHH MTV T (Gọi tắt là Công ty T) có bán cho Công ty Đ (Gọi tắt là Công ty Đ) gỗ bằng ván MDF các loại (việc mua bán Công ty T có lập Hợp đồng nhưng Công ty Đ sau khi nhận không gửi lại bản chính Hợp đồng cho Công ty T). Sau khi giao hàng và đối chiếu công nợ, Công ty T đã xuất Hoá đơn giá trị gia tăng số 36 ngày 03/10/2022 với số tiền là 436.279.068 đồng cho Công ty Đ (Hoá đơn nói trên đã bao gồm thuế VAT). Ngày 19/9/2023, Công ty Đ đã ký biên bản xác nhận công nợ xác nhận tổng số tiền mua hàng và cam kết thanh toán mỗi tháng từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng bắt đầu từ tháng 9/2023 tới tháng 12/2023 thanh toán xong số tiền nợ. Tuy nhiên, tới nay Công ty Đ chỉ thanh toán được 170.000.000 đồng, số nợ còn lại Công ty T đã nhiều lần yêu cầu, nhắc nhở Công ty Đ thanh toán nhưng không có kết quả. Hiện Công ty Đ còn nợ Công ty T số tiền 266.279.068 đồng.

Việc Công ty Đ cố tình kéo dài, không thanh toán số tiền còn nợ đã làm ảnh hưởng và gây ra cho Công ty T rất nhiều khó khăn và thiệt hại nghiêm trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các tài liệu chứng cứ kèm theo. Công ty T khởi kiện Công ty Đ yêu cầu Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty T tổng số tiền là 306.220.928 đồng (Ba trăm lẻ sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn chín trăm hai mươi tám đồng) (Trong đó, tiền nợ gốc là: 266.279.068 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với mức lãi suất 01% tháng, tính từ ngày 19/9/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/3/2025 là 15 tháng: 266.279.068 đồng x 01% x 15 = 39.941.860 đồng (Ba mươi chín triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi đồng), đồng thời lãi suất sẽ được tiếp tục tính cho tới khi Công ty Đ hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.

Bị đơn Công Ty TNHH Đ: Đã được nguyên đơn thông báo về việc khởi kiện.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp kiêm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn là Công Ty TNHH Đ và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã biết về việc khởi kiện. Về Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập bị đơn đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo Điều 178, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt.

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiêm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật của người tiến hành tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn - người đại diện theo pháp luật không có mặt là không chấp hành đúng quy định pháp luật, Toà án đã Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo Điều 178, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được xét xử trong thời hạn luật định. Kiêm sát viên không kiến nghị, khắc phục gì thêm.

Về quan điêm giải quyết vụ án của Kiêm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biêu của đại diện Viện kiêm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T yêu cầu bị đơn Công Ty TNHH Đ thanh toán tiền mua hàng hóa còn nợ nên đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, do đối tượng tranh chấp trong vụ án là nghĩa vụ thanh toán và bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện B nên Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30; Điều 35, Điều 37, điêm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 317, Điều 319 Luật Thương mại.

Theo kết quả xác minh của Công an xã B cung cấp ngày 18/02/2025 và Công văn 2186/ĐKKD ngày 27/12/2025 thì Công Ty TNHH Đ vẫn còn đang hoạt động tại ấp B, xã B, huyện B.

Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn Công ty TNHH MTV T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Riêng bị đơn Công Ty TNHH Đ và người đại diện hợp pháp không có mặt là không chấp hành đúng quy định pháp luật, Toà án đã Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo Điều 178, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn và người đại diện hợp pháp vẫn vắng mặt nên việc Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Giữa Công ty TNHH MTV T và Công Ty TNHH Đ có thỏa thuận giao kết mua bán hàng hóa gỗ ván PDF. Sau khi giao hàng và đối chiếu công nợ, Công ty T đã xuất Hoá đơn giá trị gia tăng số 36 ngày 03/10/2022 với số tiền là 436.279.068 đồng cho Công ty Đ (Hoá đơn nói trên đã bao gồm thuế VAT). Ngày 19/9/2023, Công ty Đ đã ký biên bản xác nhận công nợ xác nhận tổng số tiền mua hàng và cam kết thanh toán mỗi tháng từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng bắt đầu từ tháng 9/2023 tới tháng 12/2023 thanh toán xong số tiền nợ. Tuy nhiên, đến nay Công ty Đ chỉ thanh toán được 170.000.000 đồng, số nợ còn lại Công ty T đã nhiều lần yêu cầu, nhắc nhở Công ty Đ thanh toán nhưng không có kết quả. Hiện Công ty Đ còn nợ Công ty T số tiền 266.279.068 đồng. Do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng và đầy đủ số tiền mua hàng còn nợ nên nguyên đơn khởi kiện đòi lại số tiền còn nợ là 266.279.068 đồng và tiền lãi đến ngày 31/3/2025 là 15 tháng: 266.279.068 đồng x 1% x 15 = 39.941.860 đồng (Ba mươi chín triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi đồng), đồng thời lãi suất sẽ được tiếp tục tính cho tới khi Công ty Đ hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.

Xét chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là hóa đơn giá trị gia tăng và phiếu xuất, giao nhận hàng hóa, đối chiếu công nợ có xác nhận của bị đơn chứng tỏ bên bị đơn có thỏa thuận mua hàng hóa của nguyên đơn nhưng việc thanh toán cho nguyên đơn bị đơn chưa thực hiện xong (Nguyên đơn đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho bị đơn), như vậy có căn cứ xác định bị đơn chưa thanh toán tổng số tiền mua hàng (tiền gốc) cho nguyên đơn với số tiền 266.279.068 đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn nên có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền là 266.279.068 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn không trăm sáu mươi tám đồng).

Xét yêu cầu về tiền lãi do bị đơn chậm thanh toán: Căn cứ bảng thỏa thuận thanh toán và Điều 306 Luật Thương mại 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Do Công Ty TNHH Đ chậm thanh toán nên phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi chậm trả phát sinh cho Công ty TNHH MTV T, theo đó số tiền lãi chậm trả phát sinh tổng số tiền nợ gốc và lãi chậm trả: Công Ty TNHH Đ phải thanh toán tính từ ngày 19/9/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/3/2025 là 15 tháng: 266.279.068 đồng x 1% x 15 = 39.941.860 đồng (Ba mươi chín triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi đồng) là có cơ sở. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Đối với bị đơn Công Ty TNHH Đ vắng mặt suốt quá trình tố tụng, mặc dù Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo Điều 178, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét ý kiến của bị đơn.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiêm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Công Ty TNHH Đ phải chịu án phí sơ thẩm theo Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các le trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 95, Điều 147, Điều 178, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 246, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 50, 55, Điều 306, Điều 317, Điều 319 Luật Thương mại;

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV T đối với bị đơn Công Ty TNHH Đ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.

Công Ty TNHH Đ có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH MTV T số tiền nợ gốc là: 266.279.068 đồng (Hai trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) và tiền lãi suất tính từ ngày 19/9/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/3/2025 là 39.941.860 đồng (Ba mươi chín triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi đồng). Tổng cộng phải thanh toán là 306.220.928 đồng (Ba trăm lẻ sáu triệu hai trăm hai mươi nghìn chín trăm hai mươi tám đồng).

Kê từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kê từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công Ty TNHH Đ phải chịu số tiền 15.311.046 đồng (Mười lăm triệu ba trăm mười một nghìn không trăm bốn mươi sáu đồng).

Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV T số tiền 25.317.381 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24/0003880 ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Tân Uyên.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày nhận bản án hoặc kê từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ