vanban.org

Bản án 06/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 21/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Séng Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Séng Văn C. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xan… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Séng Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Séng Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2025/HSST
Ngày: 21/08/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Xuân Định.

Ông: Tống Văn Đông.

- Thư ký phiên tòa, ông: Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L, tham gia phiên tòa, bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TL-ST-HS, ngày 21 tháng 07 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 08 năm 2025, đối với bị cáo.

- Séng Văn C: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/08/1994; tại: Xã K, huyện M, tỉnh L; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Bản L, xã K, huyện M, tỉnh L (nay là: Bản L, xã M, tỉnh L); số CCCD/Hộ chiếu: 012094004910; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Cống; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Séng Văn X (đã chết) và con bà Chang Thị L, sinh năm 1964; vợ, sống chung như vợ chồng với chị Lỳ Gió N, sinh năm 1996 (không đăng ký kết hôn); con, có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/04/2025 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại phân trại khu vực M, thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Séng Văn C, bà: Nông Thị Minh Hạnh - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị: Lỳ Gió N, sinh năm 1996 - Trú tại: Bản L, xã K, huyện M, tỉnh L (nay là: Bản L, xã M, tỉnh L) - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 06 giờ ngày 25/04/2025. Séng Văn C, điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát 25M1-156.64, chở lá dong đi từ nhà ở bản L đến khu vực đầu cầu sông Đà đưa cho người thân, sau đó C tiếp tục điều khiển xe đi trên đường mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đoạn Quốc lộ 4H khu vực đối diện bản H, xã K, thì gặp một người phụ nữ lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh, với giá 200.000 đồng, sau đó C cầm gói Heroine bằng tay trái rồi điều kiển xe máy quay về nhà. Vào hồi 07 giờ 10 phút cùng ngày khi đi đến khu vực cầu L, xã K, huyện M, tỉnh L, thì bị tổ công tác Công an xã K đang làm nhiệm vụ, yêu cầu C dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên tay trái của C 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 347/GĐ-KTHS ngày 28/04/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Séng Văn C có khối lượng 0,37 gam; mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Có tên khoa học là Diacetylmorphine được quy định tại bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-MT ngày 21 tháng 07 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L, đã truy tố Séng Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Séng Văn C về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Séng Văn C, từ: 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh.

+. Đối với 0,37 gam Heroine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã giử toàn bộ giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.

+. Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát 25M1- 156.64, số khung RLHJA3921NY734081, số máy JA39E2934358, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe này này là tài sản đứng tên thuộc sở hữu hợp pháp của Séng Văn C, do C điều khiển chiếc xe máy của mình để đi tìm mua chất ma túy, là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L. Về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa, không tranh luận gì với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 07 giờ 10 phút cùng ngày khi đi đến khu vực cầu L, xã K, huyện M, tỉnh L (nay là xã M, tỉnh L), Séng Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an Công an xã K phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L, đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Séng Văn C luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Cống), nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã K thuộc tỉnh L, là tỉnh biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Séng Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo Séng Văn C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 10/12, lớn lên ở nhà làm nghề trồng trọt tại địa phương, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Cống), nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã K thuộc huyện M, tỉnh L (nay là bản L, xã M, tỉnh L), là xã thuộc khu vực biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại sau giám định: 01 mảnh nilon màu xanh.

+. Đối với 0,37 gam Heroine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã giử toàn bộ giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+. Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát 25M1- 156.64, số khung RLHJA3921NY734081, số máy JA39E2934358, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe này này là tài sản đứng tên thuộc sở hữu hợp pháp của Séng Văn C, do C điều khiển chiếc xe máy của mình để đi tìm mua chất ma túy, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Cống), nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã K thuộc huyện M, tỉnh L (nay là bản L, xã M, tỉnh L), là xã thuộc khu vực biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Séng Văn C đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Đối với người phụ nữ lạ mặt không rõ lai lịch, đã bán 01 gói Heroine có khối lượng 0,37 gam với giá 200.000 đồng cho bị cáo Séng Văn C. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người phụ nữ này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - L không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Séng Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Séng Văn C: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo, bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/04/2025.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Séng Văn C.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh còn lại sau giám định.

+. Đối với 0,37 gam Heroine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã giử toàn bộ giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

+. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát 25M1- 156.64, số khung RLHJA3921NY734081, số máy JA39E2934358, xe đã qua sử dụng, đây là phương tiện mà bị cáo Séng Văn C dùng vào việc phạm tội.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo Séng Văn C.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ