- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Thanh T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 1, bị hại bà Bùi Thị S. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 13 Bộ luật Dân sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2025/HS-PT Ngày 18-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn.
Các Thẩm phán:
Bà Bạch Thị Hồng Hoa.
Ông Vũ Văn Túc
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Thư ký TAND tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình ét
phúc thẩm c ng khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 82/2024/TLPT - HS ngày 11/11/2024, do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 1 và bị hại bà Bùi Thị S đối v i bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim B i, tỉnh Hoà Bình.
Các bị cáo c hán cáo:
1. Bùi Thị Thanh T; Tên gọi khác: Kh ng; Gi i tính: Nữ; Sinh ngày 06 tháng 07 năm 1991; Nơi cư trú: Khu Lục Đồi, thị trấn Bo, huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; T n giáo: Kh ng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ng: Bùi Văn Hiển, sinh năm: 1969; Con bà: Bùi Thị Nhiên, sinh năm: 1969; Chồng: Trần Đức Quảng, sinh năm: 1978; Con: 01 con, sinh năm 2016. Tiền S : Không
- Tiền án: Ngày 23/3/2021, bị TAND tỉnh Hoà Bình cải tạo kh ng giam giữ 24 tháng về tội Đánh bạc, theo bản án số 08/2021/HSST. Ngày 22/11/2022 chấp hành ong.
- Nhân thân: Ngày 22/10/2019, bị C ng an huyện Kim B i phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, mức phạt 1.000.000 đồng (đã chấp hành ong).
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 08/02/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Ngày 05/07/2024 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn T 1; Tên gọi khác: Kh ng; Gi i tính: Nam; Sinh ngày 06 tháng 06 năm 1984; Nơi cư trú: Xóm Đỉnh Cun, ã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở hiện tại: Xóm Vó Khang – Kim Bôi – Kim Bôi – Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn Ân, sinh năm 1957; Con bà Nguyễn Thị Lê, sinh năm 1958; Vợ: Bùi Thị Bến, sinh năm: 1989; Con: 02 con, con l n sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền S : Không.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/03/2024 đến ngày 04/07/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo hôn hán cáo, hôn bị hán n hị: Nguyễn Văn T 2, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu Lạng, thị trấn Bo, huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình.
- N ười bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Thanh T và N uyễn Văn T 1: Luật sư Nguyễn Minh L và Bùi Thị M - C ng ty Luật TNHH Dragon; Địa chỉ: Phòng 6, tầng 14, tòa Vineco, L F9, đường Phạm Hùng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Bị hại c hán cáo: Bà Bùi Thị S, sinh năm 1960; địa chỉ: Xóm Nà Bờ, ã Sào Báy, huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình.
- N ười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Trịnh Thị H, Vũ Văn Q ; Nguyễn Tuấn A - C ng ty Luật TNHH Hiệp Thành - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Tầng 6, ngõ 204, đường Trần Duy Hưng, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- N ười làm chứn :
1. Anh Đỗ Thế Đ, sinh năm 1983; trú tại: Khu Thống Nhất, thị trấn Bo, huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình.
3. Chị Bùi Thị H, sinh năm 1990; trú tại: Xóm Nà Bờ, ã Sào Báy, huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 10 giờ ngày 06/05/2022, Bùi Thị Thanh T đứng ở mép đường 12B thuộc thị trấn Bo, huyện Kim B i để chuẩn bị đi đến gia đình bà Bùi Thị S đang sinh sống trên th a đất số: 42, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.505m2, địa chỉ tại xóm Nà Bờ, xã Sào Báy, giấy chứng nhận quyền s dụng đất số BP 000845.CN002, do UBND huyện Kim Bôi cấp ngày 04/09/1998 đứng tên ông Bùi Văn Ên, mục đích để th ng báo cho gia đình bà S chuyển đi nơi khác, trả lại th a đất này cho gia đình T s dụng, vì T cho rằng th a đất này đã được bố đẻ của T là ng Bùi Văn Hiển nhận chuyển nhượng từ chị Bùi Thị Hường (là con gái bà S) từ đầu năm 2021, trư c đó T đã nhiều lần đến th ng báo yêu cầu gia đình bà S chuyển đi để trả lại đất cho gia đình T, nhưng phía gia đình bà S cho rằng kh ng được chuyển nhượng th a đất này cho ng Hiển nên kh ng trả, sau đó còn cho ây s a nhà, cổng, tường bao, lợp mái sân. Khi T đang đứng ở mép đường 12B thì gặp anh Đỗ Thế Đ, sinh năm:1983, HKTT: khu Thống Nhất, thị trấn Bo là chủ C a hàng Cơ khí Hà Đ tại thị trấn Bo đi e máy đến, T hỏi thì biết được anh Đ đi uống ã Mỹ Hòa – Kim B i để đo mái c ng trình, do kh ng có e, thấy anh Đ đi cùng đường nên T xin anh Đ cho đi nhờ uống óm Nà Bờ, ã Sào Báy, anh Đ đồng ý. Trên đường đi T có nói cho anh Đ biết việc mình đi uống nhà bà S để yêu cầu gia đình bà S trả lại th a đất mà bố T đã mua. Khi anh Đ chở T đi đến nhà bà S, tại nhà bà S lúc này có bà S, chị Bùi Thị Hà và chị Bùi Thị H là các con bà S đang ở nhà, ngoài ra còn có 3 – 4 người thợ đang ây s a nhà. T yêu cầu thợ tạm dừng, kh ng được ây dựng trên đất của gia đình T đã mua. Chị Hà kh ng đồng ý v i yêu cầu của T vì cho rằng gia đình mình kh ng được chuyển nhượng th a đất cho ai, nên chị Hà bảo thợ tiếp tục làm việc.
Do gia đình bà S không nghe nên T bỏ đi ra ngoài, lúc này anh Đ đã đi uống ã Mỵ Hoà để làm việc. T khai nhận do bực tức vì gia đình bà S không nghe lời mình mà còn tiếp tục cho thợ ây s a c ng trình trên th a đất mà bố T đã mua nên đã nảy sinh ý định mua đá hộc đến đổ tại cổng nhà bà S để ngăn cản kh ng cho thợ vận chuyển vật liệu ra vào được, từ đó sẽ kh ng ây s a nhà được nữa. Sau đó T gọi điện thoại cho ng Nguyễn Văn Đây, sinh năm:1968, trú tại khu Lạng – Thị Trấn Bo là chủ mỏ đá tại khu Lục Đồi, thị trấn Bo bảo ng Đây chở một e đá uống óm Nà Bờ - Sào Báy để kè đất gia đình T đã mua ( ng Đây là giám đốc C ng ty TNHH một thành viên Phát Đạt, doanh nghiệp này có khai thác mỏ đá tại khu Lục Đồi, thị trấn Bo). Ông Đây gọi điện cho con trai là Nguyễn Văn T 2, bảo T 2 múc đá chở uống óm Nà Bờ cho T. Sau đó T 2 điều khiển e t tải BKS:28C- 039.43 đi vào mỏ đá tại khu Lục Đồi, thị trấn Bo múc khoảng 10 khối đá hộc lên thùng e. Sau khi gọi cho ng Đây, T tiếp tục gọi điện cho em rể họ là Nguyễn Văn T 1, sinh năm:1984, HKTT: Xóm Đỉnh Cun – Thu Phong – Cao Phong – Hoà Bình đang làm thuê cho văn phòng bất động sản của chồng T tại thị trấn Bo, T bảo T 1 đi uống óm Nà Bờ ra hiệu i nhan cho e t lùi đổ đá, rồi T đi ra cổng óm Nà Bờ chờ e chở đá đi đến.
Sau khi đến xã Mỵ Hoà làm việc xong, anh Đ điều khiển e đi về đến xóm Nà Bờ thì gặp T đang chờ ở đây, rồi T 1, T 2 lần lượt đi đến. Thấy T 2 lái xe tải chở đá đến, T bảo T 1 đi trư c dẫn đường, còn T trèo lên cabin e t cùng đi v i T 2 vào nhà bà S. Anh Đ khai nhận khi thấy T mua đá chở vào nhà bà S, nghĩ sắp có chuyển xảy ra giữa T và nhà bà S nên anh Đ lái e cùng đi vào em. Khi đi đến ngã tư gần nhà bà S, T bảo lái e quay đầu lùi về phía cổng nhà bà S để đổ đá. Lúc này bà S, chị H và chị Hà đang ở trong nhà, thấy xe chở đá lùi về phía cổng nhà mình liền chạy ra để ngăn cản. Khi xe lùi gần đến cổng, T xuống xe và xảy ra tranh cãi v i gia đình bà S, phía bà S cùng các con cho rằng nhà đất đang ở là của gia đình mình nên kh ng cho đổ đá. T 2 ngồi trên xe thấy tranh cãi nên xuống xem. T bảo T 2 cứ đổ đá uống, tội đâu T chịu, phía gia đình bà S thì bảo kh ng được đổ, T nói đất của T T đổ và bảo lại T 2 cứ lùi vào phía cổng, tội đâu T chịu. T 2 lái xe tiếp tục lùi sát vào phía cổng nhà bà S, quá trình T 2 lùi xe thì chị Hà có bỏ cuốc, khúc gỗ, viên gạch ba vanh vào sau bánh xe tải để T 2 kh ng lùi được, thấy vậy T bảo T 1 nhặt bỏ các chư ng ngại vật trên ra để T 2 lùi xe. Khi e t lùi đến gần sát cổng thì T 1 nói là “đổ ở đây th i”, T nói “Xã kh ng cho đổ ra ngoài đường mà phải đổ trong đất của mình”, rồi T và T 1 tiếp tục ra hiệu cho T 2 lùi e t vào, khi e lùi vào áp sát cổng thì T 2 hỏi “Được chưa?”, T bảo “kh ng đổ ở đây được đâu, hất đi, hất đi, cứ hất đi”, T 1 cũng nói “Cứ lùi vào nữa đi”. T 2 tiếp tục lùi e khiến phần thùng phía sau e t va vào trụ cổng bên phải theo hư ng từ ngoài nhìn vào, làm cổng bị đổ nghiêng và nứt một đoạn tường bao liền kề v i trụ cổng bên phải. Thấy tài sản gia đình mình bị T 2 lùi e làm hư hỏng, bà S tức giận ch i T 2 là “Mẹ cái thằng này” và dơ cuốc đang cầm trên tay lên đi về phía T 2 đang ngồi trên cabin e để đánh T 2, tuy nhiên chị H đã can ngăn lại. Lúc này T vẫn bảo T 2 “Cứ lùi đi, lùi đi”, nghe vậy T 2 tiếp tục lùi e vào thêm, dẫn đến thùng phía sau xe va chạm mạnh v i trụ cổng, làm cổng và một đoạn tường bao bị đổ sập hoàn toàn vào bên trong. Lúc cổng bị đổ uống, tấm bê t ng trên mái cổng bị đổ theo đã va chạm vào cột sắt chống mái sân, làm cong móp một đoạn ống sắt dư i chân cột. Lúc này T 1 nói “Cú lùi đi, lùi đi rồi đổ uống”, T 2 liền cất ben và đổ hết đá ở trên thùng uống vị trí cổng vừa bị đổ sập rồi lái e t rời đi. Do có một số hòn đá lúc đổ bị rơi ra đường nên T bảo T 1 nhặt chất vào đống đá vừa đổ, anh Đ thấy thế cũng cúi uống cùng nhặt đá v i T 1. Một lúc sau có đại diện chính quyền ã Sào Báy và lực lượng C ng an đến hiện trường vụ việc, lúc này T nhờ Đ đưa về nhà để lấy giấy tờ liên quan đến th a đất số 42, còn T 1 được Cơ quan c ng an yêu cầu về trụ sở làm việc.
Qua điều tra ác định các tài sản bị hủy hoại, hư hỏng gồm:
- 02 (Hai) Trụ cột có chiều cao mỗi trụ là 2,8m, tiết diện vu ng (44 44)cm, ây th bằng gạch ba vanh, bên trong mỗi trụ có 2 lõi sắt cùng có đường kính 1,2cm;
- 01 (một) tấm bê t ng kích thư c (4,06 1,07)m, dày 09cm;
- 01 (một) đoạn tường bao ây bằng gạch ba vanh, diện (2,4 1,18)m, dày 14cm, bên ngoài đã trát i măng và sơn màu trắng;
- 01 (Một) Ống sắt phi 90, dày 2,1mm, “nhúng nóng”, chiều cao 3,83m, bị cong, móp ở vị trí cách chân ống 60cm. Các tài sản trên do bà S bỏ tiền mua vật liệu và thuê thợ thi c ng từ đầu năm 2022.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL - HĐĐG ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường uyên trong tố tụng hình sự huyện Kim B i kết luận: Tổng giá trị thiệt hại tài sản đối v i các tài sản của bà S bị âm hại ngày 06/5/2022 là: 4.358.590 đồng (Bốn triệu ba trăm năm mươi tám nghìn năm trăm chín mươi đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Bà S đề nghị bồi thường theo quy định pháp luật.
Tại bản án sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TAND huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình, quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 2 và Nguyễn Văn T 1 phạm tội “ Hủy hoại tài sản ”
2. X phạt: Bị cáo Bùi Thị Thanh T 15 tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 08/02/2024. Bị cáo Nguyễn Văn T 1 09 tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 22/03/2024 đến ngày 04/07/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình sự đối v i bị cáo T 2 trong vụ án, trách nhiệm dân sự, về lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10/10/2024 bị cáo Bùi Thị Thanh T kháng cáo, ngày 11/10/2024 bị cáo Nguyễn Văn T 1 kháng cáo đề nghị Tòa án hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/9/2024 của TAND huyện Kim B i; các bị cáo kh ng có tội và bồi hoàn danh dự cho bị cáo.
Ngày 11/10/2024 bị hại bà Bùi Thị S kháng cáo một phần bản án số 37/2024/HSST ngày 30/9/2024 của TAND huyện Kim B i; đề nghị tăng nặng hình phạt đối v i bị cáo T, T 1; hủy bản án sơ thẩm và trả hồ sơ điều tra bổ sung để em ét trách nhiệm đối v i Đỗ Thế Đ v i vai trò đồng phạm.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định;
- Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ được thể hiện trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi đã ét các bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho ã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như đã em ét nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ để phạt các bị cáo là tương ứng v i hành vi, đúng pháp luật.
Đối v i Đỗ Thế Đ: Quá trình điều tra kh ng thu thập được tài liệu chứng cứ gì khác để ác định Đ có hành vi giúp sức cho T và T 2 trong việc lùi e đổ đá vào cổng nhà bà S gây thiệt hại tài sản nên kh ng đề cập lý là có căn cứ.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Kh ng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 1, bị hại bà Bùi Thị S.
2. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình
Tại phiên tòa:
Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng ét
em xét hành vi của các bị cáo thực hiện là do tranh chấp trong việc chuyển nhượng, s dụng đất mà kh ng được giải quyết dứt điểm, dẫn đến bức úc, bị cáo kh ng có động cơ, mục đích hủy hoại tài sản, việc định giá tài sản là không khách quan, kh ng có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng ét hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo quy định. Bị cáo đồng ý, kh ng có ý kiến bổ sung quan điểm bào chữa của Luật sư cho bị cáo.
Bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Đề nghị tăng nặng hình phạt đối v i bị cáo T, T 1; em ét trách nhiệm đối v i Đỗ Thế Đ v i vai trò đồng phạm.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dun vụ án, căn cứ vào các tài liệu c tron hồ sơ vụ án, căn cứ vào ết quả tranh tụn tại phiên tòa, Hội đồn xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
1.1. Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, ét vụ án này các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi ét sơ thẩm các bị cáo Bùi Thị Thanh T và Nguyễn Văn T 1, bị hại bà Bùi Thị S có đơn kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để em ét theo thủ tục ét phúc thẩm.
1.2. Việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng kh ng có kháng cáo, kháng nghị đã được tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng có đơn in vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai tại cơ quan điều tra, trư c khi mở phiên tòa kh ng có đề nghị thay đổi gì khác nên việc vắng mặt của họ kh ng gây trở ngại cho việc ét . Do đó, Hội đồng ét tiến hành ét vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
1.3. Tại phiên toà, các bị cáo, người bào chữa có đề nghị triệu tập người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác đến phiên toà. Nhận thấy tại giai đoạn điều tra, truy tố, ét sơ thẩm các vấn đề nội dung liên quan đến vụ án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, do vậy kh ng cần triệu tập họ đến phiên toà cũng kh ng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, kh ng vi phạm các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét kháng cáo:
2.1 Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã khai nhận hành vi đã thực hiện, thể hiện:
- Bị cáo Bùi Thị Thanh T khai: Bị cáo biết bảo T 2 lùi e để đổ đá vào cổng sẽ gây hư hỏng tài sản, nhưng nghĩ chỗ đổ là đất nhà, là tài sản nhà của bị cáo nên vẫn thực hiện, bị cáo biết tài sản (trụ cổng và tường là của bà S được hình thành sau khi tranh chấp v i gia đình bà S. bl 365). Anh T 2 lái xe nói là chị ơi nếu lùi e nữa là đổ cổng đấy, lúc trư c khi lùi e đã làm nứt tường, bị cáo T nói cứ đổ đi tội đâu chịu, (bl 370, 382). Bị cáo và T 1 ở phía sau ra hiệu cho lái xe lùi, anh T 2 lùi e vào thêm áp sát cổng và trên ca bin hỏi T được chưa. Bị cáo bảo cứ lùi đi, anh T 1 cũng bảo cứ lùi vào nữa đi, anh T 2 lùi xe thêm thì thùng phía sau e t va chạm vào trụ cổng bên phải theo hư ng từ ngoài vào làm trụ cổng bị đổ nghiêng và nứt một đoạn tường bao liền kề v i trụ cổng, bảo cứ lùi đi, lái e tiếp tục lùi làm cổng và đoạn tường bị đổ, (BL387)
- Bị cáo Nguyễn Văn T 1 khai: Chị T bảo t i (T 1) cứ xi nhan cho xe ô tô lùi thảng vào cổng đổ đá, tội đâu chị T chịu, nghe chị nói vậy t i vòng ta phía sau e t hư ng dẫn ra hiệu cho lái e lùi thẳng vào cổng. Ô t tiếp tục lùi khiến phần thùng phía sau e t va chạm vào trụ cổng bên phải theo hư ng từ ngoài vào làm trụ cổng bị đổ nghiêng và nứt một đoạn tường bao liền kề v i trụ cổng, chị T bảo cứ lùi đi, lái e tiếp tục lùi làm cổng và đoạn tường bị đổ, t i nói là cứ lùi đi, lùi đi rồi đổ uống (bl 421 ngày 21/02/2024) (tại các BL 418 đến 442)
- Bị cáo Nguyễn Văn T 2 khai: Khi lùi e áp sát cổng, tôi (T 2) hỏi được chưa chị T bảo cứ lùi e, có một thanh niên ở phía sau (được ác định là T 1) ra hiệu i nhan bằng tay cho t i lùi e, t i tiếp tục cho e lùi vào thì thấy cổng và một đoạn tường bao bị đổ nghiêng, do thùng e va chạm vào, chị T bảo cứ lùi đi nên tôi lùi thêm chút nữa thì cổng và tường bao đổ sập, người đàn ng i nhan ở phía sau bảo cứ lùi đi và đổ đá uống.
2.2. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, những người làm chứng, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy:
Xuất phát từ việc gia đình bị cáo T và gia đình bà S có tranh chấp về việc chuyển nhượng, s dụng quyền s dụng đất 1.505m2 đất tại th a số 42, tờ bản đồ số 08, địa chỉ ã Sào Báy, huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình dẫn đến việc ngày 06/05/2022, bị cáo T đến yêu cầu gia đình bà S bàn giao lại th a đất số 42 nhưng gia đình bà S kh ng đồng ý và vẫn cho thợ tiến hành xây, s a lại các c ng trình trên đất.
Vì vậy T đã gọi điện thuê người chở một e đá đến nói là để kề đất gia đình T đã mua, đồng thời gọi điện cho em rể họ là T 1 đến để ra hiệu i nhan cho e t lùi đổ đá. Sau đó T đã yêu cầu, chỉ đạo bị cáoT 2 lùi e đổ đá tại vị trí cổng nhà bà S khiến phần thùng phía sau e t va vào trụ cổng bên phải theo hư ng từ ngoài nhìn vào, làm cổng bị đổ nghiêng và nứt một đoạn tường bao liền kề v i trụ cổng bên phải. Thấy vậy T vẫn bảo T 2 “Cứ lùi đi, lùi đi”, T 2 tiếp tục lùi e vào, dẫn đến thùng phía sau e va chạm mạnh v i trụ cổng, làm cổng và một đoạn tường bao bị đổ sập hoàn toàn vào bên trong. Lúc cổng bị đổ uống, tấm bê t ng trên mái cổng bị đổ theo đã va chạm vào cột sắt chống mái sân, làm cong móp một đoạn ống sắt dư i chân cột. Lúc này bị cáo T 1 nói “Cú lùi đi, lùi đi rồi đổ uống”, T 2 liền cất Ben e và đổ hết đá ở trên thùng uống vị trí cổng vừa bị đổ sập rồi lái e t rời đi.
2.3. Về kết quả định giá tài sản:
2.3.1 Do các kết quả định giá trư c đó chưa ác định được giá trị thiệt hại đối v i các tài sản bị âm hại tại gia đình bà S, vì vậy, ngày 21/10/2023, Cơ quan CSĐT C ng an huyện Kim B i đã ra yêu cầu định giá tài sản số 30, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản TXTTHS huyện Kim B i ác định giá trị thiệt hại tài sản đối v i các tài sản bị âm hại tại gia đình nhà bà Bùi Thị S vào ngày 06/5/2022, yêu cầu làm rõ những tài sản bị làm hư hỏng tại nhà bà S có phục hồi và s dụng lại được hay kh ng.
Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT C ng an huyện Kim B i nhận được kết luận định giá tài sản số 01 ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản TXTTHS huyện Kim B i, kết luận:
1. Bê t ng sàn mái, mác 200, có cốt thép kích thư c (4,06 1,07)m, dày 09cm (khối lượng =0,391m), có giá trị là 1.627.197 đồng.
2. 02 (Hai) Trụ cột có chiều cao mỗi trụ là 2,8m, tiết diện vu ng (44 44)cm, ây th bằng gạch ba vanh, bên trong có 2 lõi sắt có đường kính 1,2cm (khối lượng = 1,08416m3), có giá trị là 1.493.972 đồng.
3. Đoạn tường bao ây bằng gạch ba vanh bị đổ sập, diện (2,4 1,18)m, dày 14cm, bên ngoài đã chát i măng và sơn màu trắng (khối lượng =0,39648m3), có giá trị là: 1.020.721 đồng.
4. Cột ống sắt phi 90, dày 2,1mm, “nhúng nóng”, dài 3,83m, bị cong móp ở vị trí cách chân ống 60cm có thể cắt đi hàn lại, giá trị phần cột ống bị cắt đi có giá trị là 66.700đ đồng (giá 111.666 đồng/mét); tiền giá nhân c ng thay thế là 150.000đ. Tổng giá trị tính thiệt hại đối v i tài sản này là 216.700đ (hai trăm mười sáu nghìn bảy trăm đồng).
Tổng giá trị thiệt hại tài sản đối v i các tài sản của bà S bị âm hại ngày 6/5/2022 là: 4.358.590 đồng. Trong các tài sản yêu cầu định giá: Tài sản số 1 (hai trụ cổng), tài sản số 2 (một tấm bê t ng), tài sản số 3 (một đoạn tường bao) đã bị hư hỏng kh ng thể s dụng lại được; riêng tài sản số 4 (ống sắt phi 90) chỉ bị hư hỏng 60cm từ vị trí cong, móp uống đến chân ống, tài sản này có thể phục hồi và s dụng lại được.
2.3.2. Theo khoản 5 Điều 21 Nghị định số: 30/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ quy định: Các trường hợp sau đây kh ng thuộc trường hợp định giá lại tài sản theo quy định tại Điều này:
a) Hội đồng định giá chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục định giá hoặc chưa có kết luận về giá của tài sản cần định giá; hoặc thành viên Hội đồng thuộc một trong các trường hợp kh ng được tham gia định giá tài sản;
b) Có sự thay đổi về th ng tin, đặc điểm của tài sản cần định giá, thay đổi về nội dung yêu cầu định giá khi có yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
c) Việc định giá tài sản đối v i những trường hợp quy định tại điểm a và b khoản này được thực hiện như trường hợp định giá lần đầu.
Do vậy kết quả định giá số 01 ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản TXTTHS huyện Kim B i B i thực hiện là đúng pháp luật (được thực hiện như trường hợp định giá lần đầu). Sau khi có kết quả định giá, cơ quan điều tra c ng an huyện Kim b i đã th ng báo đến các bị can và bị hại trong vụ án, kh ng ai có ý kiến khiếu nại gì (th ng báo ngày 27/01/2024 từ bl 220 đến bl 224).
2.4. Tại hư ng dẫn tại mục 1 phần I C ng văn số 196/TANDTC-PC ngày 30/10/2023 V/v th ng báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vư ng mắc trong c ng tác ét
của Tòa án nhân dân Tối cao có nêu trường hợp: “Các đối tượn xây dựn nhà, côn trình, vật iến trúc trái phép trên diện tích đất do Nhà nước quản lý là hành vi vi phạm pháp luật được quy định tron Luật Đất đai năm 2013, Luật Xây dựn năm 2014 và các quy định hác của pháp luật c liên quan. Việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật đ như thế nào và bằn biện pháp ì là thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước. Việc các đối tượn hác đến tiếp tục lấn chiếm trên nhữn phần đất này và c hành vi đập phá nhà, côn trình, vật iến trúc đã xây dựn trái phép nêu trên thì phạm tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏn tài sản” được quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sun năm 2017) nếu c đủ các yếu tố cấu thành tội phạm”.
Trong vụ án này, các bị cáo đều nhận thức rõ các tài sản gắn liền trên th a đất số 42 trong đó có cột cổng, bờ tường là của bà S và biết được nếu để T 2 tiếp tục lùi e, đổ đá theo S chỉ đạo, yêu cầu của bị cáo T và si nhan của T 1 sẽ dẫn đến hậu quả làm đổ sập các tài sản này, nhưng vẫn thực hiện v i lỗi cố ý. Việc các bị cáo T và T 1 cho rằng mục đích đổ đá vào cổng nhà bà S gây thiệt hại tài sản v i lỗi kh ng cố ý là kh ng đúng v i hành vi, nhận thức của các bị cáo. Lẽ ra khi gia đình bị cáo T và gia đình bà S còn đang tranh chấp về quyền s dụng th a đất số 42 thì bị cáo phải lựa chọn hành phù hợp v i đạo đức và pháp luật để chờ đợi phán quyết của cơ quan nhà nư c có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật phù hợp v i tinh thần theo hư ng dẫn tại mục 1 phần I C ng văn số 196/TANDTC-PC ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân Tối cao.
2.5. Từ những nhận định, đánh giá nêu trên đã đủ căn cứ ác định Tòa án cấp sơ thẩm ét các bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, đã trực tiếp âm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ã hội tại địa phương, cũng như ảnh hưởng ấu đến nhiều mặt của đời sống ã hội, Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kh ng đưa ra được tình tiết nào m i chứng minh bị cáo kh ng phạm tội. Do đó, kháng cáo của các bị cáo kêu oan và quan điểm của người bào chữa của bị cáo là kh ng có cở sở nên kh ng được chấp nhận.
2.6. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho ã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như đã em ét nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để phạt các bị cáo v i mức hình phạt đã tuyên là tương ứng v i hành vi, đúng pháp luật. Hội đồng ét phúc thẩm thấy kh ng có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng hình phạt đối v i bị cáo T, T 1.
2.7. Đối v i Đỗ Thế Đ: Quá trình điều tra kh ng thu thập được tài liệu chứng cứ gì khác để ác định Đ có hành vi giúp sức cho T và T 2 trong việc lùi e đổ đá vào cổng nhà bà S gây thiệt hại tài sản nên kh ng đề cập lý là có căn cứ, Hội đồng ét phúc thẩm thấy kh ng có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại về nội dung này.
. Từ những căn cứ, nhận định nêu trên, Hội đồng ét phúc thẩm giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TAND huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình của Tòa án nhân dân huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình, phù hợp v i quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 1 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị hại bà S không phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 1, bị hại bà Bùi Thị S. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm h khoản 1 Điều 52 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 53; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối v i bị cáo Bùi Thị Thanh T.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 17; điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối v i bị cáo Nguyễn Văn T 1.
Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị Thanh T và Nguyễn Văn T 1 phạm tội “ Hủy hoại tài sản ”. X phạt:
- Bị cáo Bùi Thị Thanh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến ngày 08/02/2024.
- Bị cáo Nguyễn Văn T 1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 22/03/2024 đến ngày 04/07/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 13; điều 288; điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Bùi Thị Thanh T và Nguyễn Văn T 1 phải liên đ i bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Bùi Thị S, cụ thể: Bị cáo T phải bồi thường 5.000.000đ (năm triệu đồng), bị cáo T 1 phải bồi thường 3.358.590đ ( ba triệu ba trăm năm mươi tám nghìn năm trăm chín mươi đồng)
Kể từ n ày c đơn yêu cầu thi hành án của n ười được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho n ười được thi hành án) cho đến hi thi hành xon , bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trườn hợp pháp luật c quy định hác.
Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7 vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sự.
Buộc bị cáo Bùi Thị Thanh T phải có trách nhiệm di đời toàn bộ đống đá ra khỏi phạm vi th a đất số 42, tờ bản đồ 08 tại địa chỉ óm Nà Bờ, xã Sào Báy huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình để trả lại mặt bằng đất cho bà Bùi Thị S.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Bùi Thị Thanh T và Nguyễn Văn T 1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo T và bị cáo T 1 phải liên đ i chịu 418.000đ (Bốn trăm mười tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Trong đó phần bị cáo T phải chịu là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), phần bị cáo T 1 phải chịu là 168.000đ (Một trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Tòa án: Bị cáo Bùi Thị Thanh T, Nguyễn Văn T 1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 37/2024/HSST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim B i, tỉnh Hòa Bình kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Hà Nội; - VKSNDCC tại Hà Nội - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Công an tỉnh Hòa bình - TAND huyện Kim Bôi; - VKSND huyện Kim Bôi; - Chi cục THA huyện Kim Bôi - Bị cáo (T, T 1 theo địa chỉ) - C ng an thị trấn Bo - Công an xã Thu Phong - Bị hại - Lưu hồ sơ; Tổ HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Tuấn |