- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Án lệ 62/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và đươc công bố theo Quyết định 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI Bản án số: 06/2025/DS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 18/7/2025 V./v "Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán; Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Giới
Ông Vũ Trung Thành
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga -Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đồng Nai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuần – Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/02/025 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 14/4/2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/2025/TB-TA ngày 09/7/2025, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu K, sinh năm 1979
Địa chỉ: Đội 02, ấp 3, xã T, huyện P, tỉnh P (Nay là Đội 02, ấp T 3, xã T, tỉnh N)
* Bị đơn: Ông Đinh Hồng T, sinh năm 1972
Địa chỉ: Đội 02, ấp 3, xã T, huyện P, tỉnh P (Nay là Đội 02, ấp T 3, xã T, tỉnh N)
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
-Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2024 và các văn bản có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Thu K trình bày:
Trước đây, bà Trần Thị Thu K và ông Đinh Hồng T là vợ chồng, được Tòa án xử cho ly hôn bằng Bản án số 13/2019/HNGĐ-ST ngày 22/4/2019. Theo Bản án số 13/2019/HNGĐ-ST thì Tòa án xử cho bà Trần Thị Thu K và ông Đinh Hồng T được ly hôn; Về con chung: Giao cháu Đinh Quốc T, sinh ngày 18/6/2012 cho bà K nuôi dưỡng, cháu Đinh Quốc Tuấn, sinh năm 2001 đã lớn, trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu xem xét, giải quyết; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết (Do bà K và ông T tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con và chia tài sản chung). Sau khi ly hôn, ông T không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay, cháu Tú đang còn tuổi ăn học, bản thân bà K một mình không lo nỗi, cháu có nguyện vọng được sống chung với bà K, bà K cũng có nguyện vọng được nuôi con. Do ông Đinh Hồng T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên bà Trần Thị Thu K khởi kiên yêu cầu ông Đinh Hồng T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/1tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 22/4/2019 (Ngày Tòa án giao cháu Tú cho bà K nuôi dưỡng) cho đến khi cháu Tú trưởng thánh đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thu K có yêu cầu buộc ông Đinh Hồng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/1tháng, thời gian cáp dưỡng được tính một lần kể từ ngày 22/4/2019 đến nay (Ngày 18/7/2025). Từ ngày 19/7/2025 trở về sau yêu cầu ông Đinh Hồng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng theo quy định.
Ngoài ra, không còn có yêu cầu nào khác.
- Tại bản tự khai ngày 25/02/2025 và các văn bản có trong hồ sơ vụ án, bị đơn là ông Đình Hồng Tâm trình bày:
Trước đây, ông Đinh Hồng T và bà Trần Thị Thu K là vơ chồng và đã được Tòa án xét xử cho ly hôn bằng Bản án số 13/2019/HNGĐ-ST ngày 22/4/2019, tại Bản án số 13/2019/HNGĐ-ST của Tòa án đã quyết định:
Về hôn nhân: Xử cho ông Đinh Hồng T và bà Trần Thị Thu K ly hôn.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Đinh Quốc T cho bà Trần Thị Thu K trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết
Sau đó, ông Đinh Hồng T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung: Ông Đinh Hồng T và bà Trần Thị Thu K đã thống nhất thỏa thuận là bà Trần Thị Thu K chia cho ông Đinh Hồng T số tiền 200.000.000đồng, còn lại phần tài sản thì bà Trần Thị Thu K được toàn quyền sử dụng và sở hữu. Trong đó, bà Trần Thị Thu K đã trả cho ông Đinh Hồng T số tiền là 50.000.000đồng, còn lại 150.000.000đồng, ông Đinh Hồng T và bà Trần Thị Thu K thống nhất là bà Trần Thị Thu K sẽ hoàn trả cho ông Đinh Hồng T vào ngày 15/4 /2025. Hiện nay, bà K vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ông Đinh Hồng T.
Bà Trần Thị Thu K khởi kiện yêu cầu ông Đinh Hồng T phải cấp dưỡng cho cháu Đinh Quốc T (Là con chung của ông T và cô Kiều), mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 22/4/ 2019 cho đến khi cháu Tú trưởng thành đủ 18 tuổi thì ông Đinh Hồng T có quan điểm như sau:
Số tiền 150.000.000đồng như các bên đã thỏa thuận thì bà K vẫn phải thanh toán cho ông T. Ông Đinh Hồng T sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/01tháng thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu Tú trưởng thành đủ 18 tuổi. Vì hiện tại toàn bộ tài sản ông T đã giao cho bà K được toàn quyền quản lý, sử dụng và sở hữu, bản thân ông T phải đi ờ nhà mướn và không có công việc làm ăn ổn định nên không thể cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà K. Trường hợp bà K không đồng ý thì ông T yêu cầu bà K giao cháu Tú cho ông T nuôi dưỡng, ông T không yêu cầu bà K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ngoài ra, không còn có yêu cầu nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 –Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn. Phân tích các tình tiết của vụ án, tài liệu, chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa, đối chiếu với quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 82, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình ; Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu K, buộc ông Đinh Hồng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 11/10/2024 cho đến khi cháu Tú trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn là bà Trần Thị Thu K khởi kiện yêu cầu ông Đinh Hồng T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, sinh ngày 18/6/2012, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/01tháng, thời gian cáp dưỡng được tính một lần kể từ ngày 22/4/2019 đến nay (Ngày 18/7/2025). Từ ngày 19/7/2025 trở về sau yêu cầu ông Đinh Hồng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng theo quy định. Bị đơn là ông Đinh Hồng T đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/01tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (Ngày 18/7/2025) cho đến khi cháu Tú trưởng thành đủ 18 tuổi.
Căn cứ vào nội dung khởi kiện, yêu cầu của các đương sự, xác định đây là vụ án "Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con" được quy định tại khoản 5 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự .
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là ông Đinh Hông Tân cư trú tại xã T, huyện P, tỉnh P (Nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai.
Yêu cầu của đương sự:
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thu K yêu cầu ông Đinh Hồng T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, sinh ngày 18/6/2012, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/01tháng, thời gian cáp dưỡng được tính một lần kể từ ngày 22/4/2019 đến nay (Ngày 18/7/2025). Từ ngày 19/7/2025 trở về sau yêu cầu ông Đinh Hồng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng theo quy định.
Theo quy định tại các Điều 82, 83; khoản 24 Điều 3, Điều 107, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 281 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con chưa thành niên được phát sinh từ khi người con được sinh ra. Việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con. Cháu Đinh Quốc T, sinh ngày 18/6/2012 là con chung của bà Trần Thị Thu K và ông Đinh Hổng Tâm. Bản án số 13/2019/HNGĐ-ST ngày 22/4/2019, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh P giao cháu Đinh Quốc T cho bà Trần Thị Thu K nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con (Do các đương sự không yêu cầu). Do ông Đinh Hồng T không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con nên ngày 11/10/2024, bà Trần Thị Thu K làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Đinh Hồng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T của ông Đinh Hồng T phát sinh từ ngày 22/4/2019, ngày Tòa án giao cháu Tú cho bà K nuôi dưỡng theo Bản án 13/2019/HNGĐ-ST. Từ ngày 22/4/2019, một mình bà Trần Thị Thu K chăm sóc, nuôi dưỡng và chi trả các khoản chi phí nuôi Đinh Quốc T (Tiền ăn, học tập và các khoản chi phí sinh hoạt khác). Vì vậy, bà Trần Thị Thu K yêu cầu ông Đinh Hồng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày 22/4/2019 đến khi cháu Đinh Quốc T trưởng thánh đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp với các Điều 82, 83; khoản 24 Điều 3, Điều 107, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 281 Bộ luật Dân sự năm 2005, Án lệ 62/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và đươc công bố theo Quyết định 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận .
Kết quả xác minh tại địa phương nơi bà Trần Thị Thu K, ông Đinh Hồng T và cháu Đinh Quốc T cư trú thì bà K và ông T đều có đủ điều kiện nuôi con, mức chi phí để nuôi 01 con trẻ ở mức độ trung bình (Tiền ăn, các chi phí cho việc học hành và các hoạt động khác) giao động từ 5.000.000đồng đến 6.000.000đồng/01tháng. Tại khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 26/5/2024 (Có hiệu lực từ 01/7/2024) quy định: Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Tại địa bàn nơi ông Đinh Hồng T đang cư trú thuộc mức lương tối thiểu vùng II (huyện P, tỉnh P – Nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) là 4.410.000đồng/01tháng hoặc 21.200đồng/giờ. Như vậy, bà Trần Thị Thu K yêu cầu ông Đinh Hồng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng là phù hợp với ½ chi phí sinh hoạt ở mức bình thường cho 01 con trẻ, phù hợp với quy định tại Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 (Có hiệu lực từ 01/7/2024) nên được chấp nhận.
Về thời gian cấp dưỡng, hình thức cấp dưỡng, số tiền cấp dưỡng mà bà Trần Thị Thu K đã chi phí mà ông Đinh Hồng T phải hoàn trả cũng cần xem xét đến từng thời gian yêu cầu. Ngày 11/10/2024, bà Trần Thị Thu K mới có đơn khởi kiện yêu cầu ông Đinh Hồng T cấp dưỡng nuôi con; Như vậy, từ ngày 22 tháng 4 năm 2019 cho đến ngày10/10/2024 (Trước ngày bà K khởi kiện), một mình bà Trần Thị Thu K chăm sóc, nuôi dưỡng và chi trả các khoản chi phí nuôi cháu Đinh Quốc T nên ông Đinh Hồng T phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thu K ½ số tiền mà bà K đõ bỏ ra để chi phí nuôi Đinh Quốc T, ngày 11/10/2024 (Ngày bà K khởi kiện), ông D9inh Hồng Tâm phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T hàng tháng theo quy định.
Xét thấy, buộc ông Đinh Hổng Tâm phải hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thu K ½ số tiền 2.500.000đồng/tháng mà bà Trần Thị Thu K đã bỏ ra nuôi cháu Đinh Quốc T tính từ ngày 22/4/2019 cho đến ngày 10/10/024 như sau: 65 tháng 18 ngày x 1.250.000 đồng/tháng = 164.000.000 đồng và buộc ông Đinh Hổng Tâm phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 11/10/2024 đến khi cháu Đinh Quốc T trưởng thánh đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Ông Đinh Hồng T đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 18/7/2025 (Ngày Tòa án xét xử sơ thẩm) cho đến khi cháu Tú trưởng thành đủ 18 tuổi là thiếu thiện chí, không phù hợp với quy định của pháp luật như đã nhận định tại mục [1] nên không được chấp nhận.
Các vấn đề khác có liên quan: Các bên đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Đồng Nai đề nghị Điều luật áp dụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là có căn cứ nên được ghi nhận.
Về án phí: Các bên phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 82, 83; khoản 24 Điều 3, Điều 107, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dụng Án lệ 62/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và đươc công bố theo Quyết định 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu K
1.1. Buộc ông Đinh Hổng Tâm phải hoàn trả lại cho bà Trần Thị Thu K ½ số tiền mà bà Trần Thị Thu K đã bỏ ra nuôi cháu Đinh Quốc T tính từ ngày 22/4/2019 cho đến ngày 10/10/2024 là 164.000.000đồng
1.2. Buộc ông Đinh Hổng Tâm phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Quốc T, sinh ngày 18/6/2012, mức cấp dưỡng là 2.500.000đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 11/10/2024 đến khi cháu Đinh Quốc T trưởng thánh đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
2. Về Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đinh Hồng T phải nộp 8.500.000đồng. Hoàn trả cho bà Trần Thị Thu K số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 0010891 ngày 06/02 /2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh P (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Đồng Nai).
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền phải thi hành, bên phải thi hành chậm trả thi hành thì ngoài số tiền phải trả còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND Khu vực 9 - ĐN; - Phòng THADS Khu vực 9 - ĐN; - Các đương sự. - Lưu HS, VP; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Quang Dũng |