vanban.org

Bản án 06/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Lvà đồng bọn phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2024/HSST
Ngày 22- 01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Khúc Thị Minh

Bà Đặng Thị Đôi

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện K, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số số 81/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình L, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2003 tại Hải Phòng; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1974 và bà Đào Thị L1, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2023, có mặt.

2. Nguyễn Minh Q, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2003, tại Hải Phòng; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Nho S, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/9/2020 Công an quận D, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác (đã xóa); bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2023, có mặt.

3. Vũ Hữu T, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2000, tại Hải Phòng; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hữu H1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1971; có vợ là Trần Hải Y, sinh năm 1997, có 02 con,con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2023. có mặt.

4. Đào Văn H3, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2000, tại Hải Phòng; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2023, có mặt.

5. Đào Quang H5, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2002, tại Hải Phòng; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn G, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Quang K, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/8/2023, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 16/8/2023 T điều khiển xe ô tô chở Trần Hải Y, Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Đào Văn H3 đến văn phòng giao dịch bất động sản của T ở thôn Q, xã T, huyện K để ngồi chơi uống nước. Trên xe ô tô, L nói nhỏ với Q “tí nữa anh em mình chơi đồ” có nghĩa là L rủ Q sử dụng ma túy và nói để ở quạt thông gió trong phòng ngủ; ngoài ra không ai nghe thấy. Nguồn gốc số ma túy là của L tự bỏ tiền mua trước đó khoảng 3-4 ngày tại khu vực Cầu R của một người đàn ông không quen biết với giá 05 triệu đồng, sau đó L về cất tại vị trí quạt thông gió khi không có ai tại văn phòng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm về đến văn phòng thì gặp Đào Quang H5 và Đào Anh K1 đã ngồi chơi tại đây; Y đi vào phòng ngủ. Tại phòng khách, L nói “hôm nay mùng 1 anh em dùng tí đồ”, có nghĩa là L rủ T, Q, H3, H5 và K1 sử dụng ma túy. Cả nhóm đồng ý; Q đi vào phòng ngủ, trèo lên giường với tay lên vị trí quạt thông gió lấy ra 01 vỏ bao thuốc nhãn hiệu Marlboro màu trắng, bên trong có 04 viên nén hình vuông màu xám là ma túy kẹo MDMA và 04 túi nilon màu trắng kích thước 03x03cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine, cầm ra để trên mặt bàn uống nước ở phòng khách. H3 đổ toàn bộ số ma túy ra tay xem rồi để lên mặt bàn uống nước và bảo Q đi mua nước ngọt về sử dụng ma túy kẹo MDMA cho đỡ. H3 đưa cho T 01 viên ma túy MDMA nhưng T không sử dụng. T lấy 04 túi ma túy Ketamine để vào ngăn kéo bàn nhỏ cạnh bàn máy tính. H3 lấy 01 viên ma túy kẹo MDMA đưa cho H5 để sử dụng; H5 cầm lấy bẻ làm đôi đưa cho K1 ½ viên và đi lấy nước lọc ở trong phòng khách đưa K1; H5 và K1 mỗi người đã sử dụng ½ viên ma túy kẹo MDMA cùng nước lọc. H3 lấy tiếp 01 viên ma túy kẹo MDMA bẻ đôi đưa cho L ½ viên để sử dụng; L cầm lấy để xuống ghế, H3 để ½ viên trên mặt bàn, L và H3 chờ nước ngọt Q mua về rồi sử dụng. H3 lấy tiếp 01 viên ma túy kẹo MDMA để ở trên mặt bàn, khi Q mua nước ngọt về thì H3 dùng tay chỉ vào 01 viên ma túy này và bảo Q sử dụng. Q lấy bẻ làm đôi sử dụng ½ viên, đưa ½ viên cho K1 nhưng K1 sử dụng rồi nên không dùng, Q để ½ viên này trên mặt bàn. Y ở trong phòng ngủ sử dụng điện thoại nên không biết mọi người sử dụng ma túy kẹo MDMA ở phòng khách.

Sau đó cả nhóm chơi bài vui tại bàn uống nước ở phòng khách. Bùi Tuấn A đi qua văn phòng bất động sản thấy mọi người đang ngồi chơi bài nên vào xem. H3 lấy ½ viên ma túy kẹo MDMA trên mặt bàn đưa cho Tuấn A cầm, Tuấn A kêu đau bụng không dùng và để lại mặt bàn. L đã dùng hết ½ viên ma túy kẹo MDMA này. Cả nhóm ngồi chơi bài được hơn 30 phút thì không chơi nữa. Tuấn A bị đau bụng nên đi ra ngoài đường nôn. T và Q đi vào khu vực bếp lấy đĩa, bật bếp ga hơ đĩa, lấy giấy ăn lau đĩa rồi mang ra bàn máy tính. T lấy trong ngăn kéo bàn máy tính 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Kim S1 (là của bạn T để quên tại văn phòng) và 03 túi ma túy Ketamine ở ngăn kéo bàn nhỏ kê bên cạnh bàn máy tính, rồi cầm đĩa đi vào phòng ngủ để trên nóc tủ lạnh. Cùng lúc này H3 đi ra ngăn kéo bàn nhỏ kê cạnh bàn máy tính tìm tiền để cuộn ống hút, do K1 đang ngồi ở đây sử dụng điện thoại nên H3 không với tay lấy được đã bảo K1 lấy hộ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đưa cho H3, H3 cầm tờ tiền đi ra khu vực ban thờ thần tài cuộn thành ống hút, Q lấy 03 đầu lọc thuốc lá Thăng Long ở ban thần tài xỏ vào ống hút do H3 cuộn để cố định. H3 cầm ống hút đi vào phòng ngủ để trên giường. T bảo Y đi ra phòng khách chờ T chở về nhà. Sau đó L đi vào phòng ngủ đổ 03 túi Ketamine ra đĩa, T đánh mịn Ketamine. Tại phòng ngủ, T, L, Q, H3, H5 mỗi người tự kẻ ma túy Ketamine để sử dụng. Y ở ngoài phòng khách và Tuấn A ở ngoài đường nôn nên không biết mọi người sử dụng ma túy Ketamine trong phòng ngủ. Đến 23 giờ 30 phút ngày cùng ngày, Công an đến kiểm tra nên T lấy đĩa sứ có ma túy Ketamine cùng thẻ căn cước công dân vứt vào bồn cầu xả nước, rửa sạch ma túy. Cơ quan công an đã lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng: 01 đĩa sứ màu trắng hình bầu dục và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Kim S1, trong bồn cầu nhà vệ sinh; 01 ống hút cuộn bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cố định bởi 03 đầu lọc thuốc lá, trên giường trong phòng ngủ; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Marlboro bên trong có 01 viên nén hình vuông màu xám (niêm phong ký hiệu mẫu M1) trên mặt bàn uống nước tại phòng khách; 01 túi nilon màu trắng kích thước 03x03cm chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu mẫu M2) ở ngăn kéo bàn nhỏ kê bên cạnh bàn máy tính; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 17 điếu trên ban thờ thần tài; 01 chiếc laptop nhãn hiệu Apple và 01 chiếc loa mini trong phòng ngủ. Số ma túy còn lại bị công an thu giữ, cả nhóm sẽ sử dụng hết nếu không bị phát hiện.

Tại kết luận giám định số 672 ngày 21/8/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: 01 viên nén hình vuông màu xám (mẫu M1) là ma túy MDMA khối lượng 0,43gam; tinh thể màu trắng (mẫu M2) là ma túy Ketamine khối lượng 0,67gam. Các mẫu nước tiểu của L, Q, H3, H5, đều tìm thấy chất ma túy loại MDMA và Ketamine; của T tìm thấy chất ma túy loại Ketamine; của K1 và Tuấn A đều tìm thấy chất ma túy MDMA; của Y không tìm thấy chất ma túy.

Các đối tượng được đưa vào cơ sở cai nghiện từ ngày 17/8/2023 đến ngày 22/8/2023 Cơ sở cai nghiện số 02 thành phố Hải Phòng xác định: T, L, Q, H3, H5, K1, Tuấn A đều không phải đối tượng nghiện ma túy.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-KT ngày 28 tháng 12 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đào Quang H5 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, Đào Anh K1 có hành vi đưa tờ tiền 10.000 đồng cho bị cáo Đào Văn H3 sau đó H3 dùng tờ tiền này làm ống hút sử dụng ma túy Ketamine; tuy nhiên K1 không biết H3 sử dụng làm gì nên hành vi của K1 không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đào Anh K1 có hành vi sử dụng ½ viên ma túy MDMA nên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an huyện K để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Trần Hải Y, Bùi Tuấn A không biết các đối tượng sử dụng ma túy; trong nước tiểu của Tuấn A có chất ma túy loại MDMA, tuy nhiên không có căn cứ xác định Tuấn A sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Đình L vào ngày 13/8/2023 tại khu vực Cầu R, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra chưa xác minh được rõ tên, tuổi, địa chỉ nên tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về vật chứng: Ngày 18/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 đĩa sứ màu trắng hình bầu dục, 01 chiếc laptop nhãn hiệu Apple và 01 chiếc loa mini cho ông Vũ Hữu H1, sinh năm 1968, trú tại Thôn B, xã K, huyện K (bố bị can T); trả lại 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Kim S1 cho anh Nguyễn Kim S1, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã T, huyện K, là những chủ sở hữu hợp pháp không biết các bị cáo sử dụng vật chứng vào việc phạm tội.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 08 năm - 08 năm 06 tháng tù; Nguyễn Minh Q từ 07 năm 06 tháng tù - 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ 22/8/2023;

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Hữu T, Đào Văn H3 mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Quang H5 từ 24 – 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng gồm: 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bao thuốc lá hình chữ nhật in mác Marlboro; 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 17 điếu thuốc; Bì giấy niêm phong chất ma túy cùng vỏ túi nilon có đóng dấu niêm phong số 627 của Phòng P và chữ ký của những người có liên quan; Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.

- Ý kiến của các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố là đúng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố đối với các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút ngày 16/8/2023, tại văn phòng giao dịch bất động sản của Vũ Hữu T, ở thôn Q, xã T, huyện K, Nguyễn Đình L, Vũ Hữu T, Nguyễn Minh Q, Đào Văn H3 đã tổ chức cho nhau, tổ chức cho Đào Quang H5, Đào Anh K1 sử dụng trái phép chất ma túy MDMA và Ketamine; Đào Quang H5 tổ chức cho Đào Anh K1 sử dụng trái phép chất ma túy MDMA thì bị bắt giữ. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng với mong muốn sử dụng ma tuý cũng như đưa được chất ma tuý vào cơ thể người khác một cách trái phép các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tổ chức cho Đào Quang H5 và Đào Anh K1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của các bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “từ 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đào Quang H5 có hành vi tổ chức cho Đào Anh K1 sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo H5 không vi phạm các tình tiết định khung nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho cả năm bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 khi quyết định hình phạt. Bị cáo Đào Văn H3 và Đào Quang H5 đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; gia đình bị cáo H3 có ông nội là thương binh, bà nội là thanh niên xung phong; bị cáo H5 có bố là bệnh binh; bị cáo T có văn bản xác nhận và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K do bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho các bị cáo T, H3, H5 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta về chất ma túy và việc sử dụng chất ma tuý vào mục đích chữa bệnh mà còn xâm hại trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm lan tràn tệ nạn ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật là rất cần thiết.

Đây là vụ án có đồng phạm, do đó cần phân hóa vai trò của các bị cáo để có mức án phù hợp. Bị cáo Nguyễn Đinh L2 phạm tội với vai trò là người đề xuất, bỏ tiền mua ma túy để các đối tượng khác cùng sử dụng nên bị cáo có vai trò cao nhất nên mức hình phạt của bị cáo L2 phải cao nhất so với các bị cáo khác trong vụ án và phải trên mức khởi điểm của khung hình phạt. Bị cáo Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 đồng phạm tội với vai trò là người thực hành nên các bị cáo có vai trò cơ bản ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo Q có hành vi thực hành tích cực, nhân thân có 01 tiền sự về hành vi cố ý xâm phạm đến sức khỏe người khác, mặc dù đã được xóa nhưng cũng phải đánh giá bị cáo có nhân thân xấu đồng thời các bị cáo T, H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt hơn so với bị cáo Q. Do đó mức hình phạt của bị cáo Q thấp hơn so với bị cáo L2 nhưng phải cao hơn so với các bị cáo T, H3 đồng thời phải trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo Q đồng thời xử phạt các bị cáo T, H3 ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với gia đình chính sách và người tích cực sửa chữa sai lầm.

Bị cáo Đào Quang H5 phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo tiếp nhận ý chí của các bị cáo khác trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội không đáng kể, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó chỉ cần xử bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Ngoài ra khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo tài liệu điều tra xác minh có trong hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, do vậy Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra thu giữ các vật chứng gồm: 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bao thuốc lá hình chữ nhật in mác Marlboro; 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 17 điếu thuốc; Bì giấy niêm phong chất ma túy cùng vỏ túi nilon có đóng dấu niêm phong số 627 của Phòng P và chữ ký của những người có liên quan. Xét đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và là phương tiện, dụng cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng là dụng cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Vũ Hữu T, Đào Văn H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Hữu T 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023.

Xử phạt bị cáo Đào Văn H3 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đào Quang H5 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đào Quang H5 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2023.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long; 01 vỏ bao thuốc lá hình chữ nhật in mác Marlboro; 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 17 điếu thuốc; Bì giấy niêm phong chất ma túy cùng vỏ túi nilon có đóng dấu niêm phong số 627 của Phòng P và chữ ký của những người có liên quan;

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo Nguyễn Đình L, Nguyễn Minh Q, Vũ Hữu T, Đào Văn H3 và Đào Quang H5 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ