- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Dũng C phạn tội tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dũng C phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 06/2023/HS-ST Ngày 11- 01- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 04 và 11 tháng 01 năm 2023 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 329/2021/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2022/HSST-QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2022/HSST-QĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Dũng C, sinh năm 1982 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; cư trú: Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1945 và bà Hoàng Thị L, sinh năm: 1954; có 07 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1984; có vợ tên Trần Thị V, sinh năm 1981 và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án: Ngày 08/7/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố D xét xử 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”(Bản án số 211/2022/HSST); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố D (thị xã D cũ), tỉnh Bình Dương xử phạt 25.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”. Đã đóng phạt xong vào ngày 29/6/2016. Ngày 25/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố D (thị xã D cũ), tỉnh Bình Dương xử phạt 4 tháng 02 ngày tù, phạt bổ sung 10.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”. Đã đóng phạt xong vào ngày 31/10/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/8/2022 cho đến ngày 12/10/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Vân; vắng mặt.
2. Ông Lê Văn Tân; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 25/8/2022, Nguyễn Dũng C sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone X, sim số 0899.955.228 để nhận tin nhắn mua số đề từ các con bạc. Cụ thể, C bán số đề cho Nguyễn Văn V, sinh năm: 1970, trú tại: Thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, sử dụng số điện thoại 0376.020.434 với nội dung: “50, 52, 65 đá 10 2 đai.ok; 65, 66bao5nganhd.ok; 58 bao 10 ngan TN.ok; 19.b20n.TN.19b10n.AG.ok; 67, 76 56d1n xien; 53, 35, 65, 56 b5n hd có nghĩa là số 50, 52, 65 đá 10.000 đồng, hai đài xổ số Tây Ninh và An Giang; số 65, 56 bao 5.000 đồng, hai đài Tây Ninh và An Giang; số 58 bao 10.000 đồng đài Tây Ninh; số 19 bao lô 20.000 đồng đài Tây Ninh; số19 bao lô 20.000 đồng đài An Giang, số 67, 76, 56 đá xiên 1.000 đồng; số 53, 35, 56, 65 bao lô 5.000 đồng hai đài Tây Ninh và An Giang. Tổng số tiền Nguyễn Văn V sử dụng vào việc đánh bạc của đài Tây Ninh số tiền là 2.376.000 đồng và đài An Giang số tiền là 1.800.000 đồng. Cũng trong ngày 25/8/2022, Cường còn bán số đề cho Lê Văn T. T sử dụng số điện thoại 0971.246.616 nhắn vào số điện thoại 0899.955.228 của C với nội dung: “86b10n686b20n đ50n đ50n”, có nghĩa số 86 đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng với số tiền 100.000 đồng, số 86 bao lô 10.000 đồng, số 686 bao lô 20.000 đồng, của đài xổ số Tây Ninh. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của Lê Văn T là 620.000 đồng.
Tổng số tiền Cường đánh bạc với Nguyễn Văn V và Lê Văn T số tiền là 4.796.000 đồng (bốn triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng), C, V và T chưa giao nhận tiền cho nhau.
Lúc 17 giờ ngày 25/8/2022, Công an phường T kiểm tra hành chính tại nhà của C, C khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đối với Nguyễn Văn V và Lê Văn T đánh bạc với Nguyễn Dũng C nhưng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Đánh bạc”, V và T đã bị xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền với số tiền 350.000 đồng/người.
- Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, sim số 0899.955.228.
Tại Cáo trạng số 352/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Dũng C về Tội tổ chức đánh bạc theo điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng C mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen cùng sim số 0899.955.228 của Nguyễn Dũng C do sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu hủy sim số 0899.955.228.
Đối với số tiền 4.796.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng), Nguyễn Văn V và Lê Văn T sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú là đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về nội dung:
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại địa chỉ khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Dũng C có hành vi trực tiếp bán số đề, thắng thua bằng tiền với Nguyễn Văn V và Lê Văn T với tổng số tiền 4.796.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng); hành vi của bị cáo thực hiện chưa đủ định lượng để truy tố bị cáo, do bị cáo Nguyễn Dũng C đã có tiền án, về tội “Đánh bạc” và trong thời gian đang thi hành án treo nên hành vi của Nguyễn Dũng C, đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa, đổi bổ sung 2017.
Do đó, Cáo trạng số: 352/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Dũng C về Tội tổ chức đánh bạc theo điểm đ khoản 1 Điều 322 và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là không có căn cứ và đúng với hành mà bị cáo Cường đã thực hiện.
Tại Bản án số 211/2022/HSST, ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố D xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng C 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, do bị phạm tội mới nên bị cáo C phải chấp hành hình phạt 06 tù và phải chấp hình phạt chung của hai bản án.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu bị xét xử nhiều lần về Tội đánh bạc.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù, nên không áp dụng hình phạt bổ sung và tiếp tục duy trì các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 4.796.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen của Nguyễn Văn V, Lê Văn T và C sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu sung ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy sim số 0899.955.228 vì không giá trị sử dụng.
Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, chưa phù hợp hành vi của bị cáo thực hiện, nên được Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa, đổi bổ sung 2017 để quyết định tội danh và mức hình nhẹ hơn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Đối với Nguyễn Văn V và Lê Văn T đánh bạc với Nguyễn Dũng C chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Đánh bạc”, V và T đã bị Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền với số tiền 350.000 đồng/người.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dũng C phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Buộc bị cáo phải chấp hành 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 211/2022/HSST, ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo Nguyễn Dũng C phải chấp hành hình phạt tù 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 25/8/2022 cho đến ngày 12/10/2022.
Tiếp tục duy trì áp dụng Quyết định biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Dũng C.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: số tiền 4.796.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen.
Tịch thu tiêu hủy sim số 0899.955.228.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Dũng C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tp D; - Chi cục THADS tp D; - Công an tp D; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng BC 81 CA tỉnh BD; - UBND xã nơi bị cáo TT; - Lưu: VT, HSVA, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |