vanban.org

Bản án 06/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trương Trung Ngh, Bùi Đặng Gia L, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Trung Ngh 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2021. 2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương trung Ngh - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trương Trung Ngh, Bùi Đặng Gia L, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 06/2023/HS-ST
Ngày: 11 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Quang Vinh

+ Ông Trương Minh Thọ

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2022/QĐXXST-HS ngày 28/12/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Trung Ngh, sinh năm:1994, tại: LĐ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 59 C Th, Phường 7, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trương Văn L, sinh năm: 1968 và bà: Hồ Thị T, sinh năm: 1969; vợ: Trần Thị Thanh Q, sinh năm: 1994; có 01 con sinh năm: 2012; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án: Tại bản án số 105/2016/HSPT ngày 23/9/2016, Tòa án nhân dân tỉnh LĐ xử phạt Trương Trung Ngh 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 12/5/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL.

2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Th, sinh năm: 2000, tại: NA; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn G Thi, xã GL, huyện LH; tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông: Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1976 và bà: Trần Thị Ph, sinh năm: 1979; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiên sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 12/5/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh LĐ.

3. Họ và tên: Đặng Bùi Thanh L (tên gọi khác: Bi), sinh năm: 1983, tại: LĐ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 69, AB, Phường 3, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông: Đặng Văn M, sinh năm: 1958 và bà: Bùi Thị H (đã chết); vợ Lê Thị Minh Tr, sinh năm: 1981; có 02 con, lớn nhất sinh năm: 2008, nhỏ nhất sinh năm: 2018; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

+ Tại bản án số 165/2015/HSST ngày 07/9/2015, Toà án nhân dân thành phố ĐL, Tỉnh LĐ xử phạt Đặng Bùi Thanh L 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong bản án.

+ Tại Quyết định xử phạt hành chính số 49475 ngày 25/5/2010, Công an Phường 3, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ xử phạt Đặng Bùi Thanh L 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngàu 28/5/2010.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 22/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL.

4. Họ và tên: Hứa Gia U, sinh năm: 2000, tại: ĐN; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ 4, Khu phố 7, Thịa trấn GR, huyện XL, Tỉnh ĐN; nơi cư trú: 12/1 La SPhT, Phường 6, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông: Hứa Thế L, sinh năm: (không rõ) và bà: Võ Thị Ph, sinh năm: 1977; Chồng: (không); có 01 con sinh năm sinh năm 2016; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiên sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 02/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL.

5. Họ và tên: Đào Vĩnh A, sinh năm: 1995, tại: LĐ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 2/8 An D V, Phường 2, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông: Đào Sơn T, sinh năm: 1970 và bà: Trần Thanh H, sinh năm: 1971; vợ: Đặng Ngọc Trâm A, sinh năm: 1993, có 02 con, lớn nhất sinh năm: 2021, nhỏ nhất sinh năm: 2015; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án: Tại bản án số 37/2017/HSST ngày 20/9/2017, Toà án nhân dân tỉnh LĐ xử phạt Đào Vĩnh A 05 (năm) năm tù về tội “Giết người”, được tha tù trước thời hạn có điều kiện vào ngày 26/02/2021, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 21/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Minh Tr, sinh năm: 1981, địa chỉ: 69 Hẻm A B, Phường 4, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

2. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1990, địa chỉ: Số 42 Hẻm TP, Phường 4, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

3. Bà Trần Thị Ph, sinh năm: 1979, địa chỉ: Thôn G Th, xã GL, huyện LH, Tỉnh LĐ.

- Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Đình H, sinh năm: 1997, địa chỉ: 68 Trần KD, Phường 8, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

2. Anh Trương Phi L, sinh năm: 1997, địa chỉ: Hv 2, xã H L, huyện ĐT, Tỉnh LĐ.

3. Ông Võ Văn Nh, sinh năm: 1952, địa chỉ: Số 91 HV, Phường 11, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

4. Anh Huỳnh Phú Qu, sinh năm: 1991, địa chỉ: Số 91 HV, Phường 11, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

(Các bị cáo đều có mặt; người liên quan bà Tr có mặt; bà H có đơn xin vắng mặt; bà Ph vắng mặt; những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Trung Ngh là đối tượng có tiền án về tội Cướp tài sản. Khoảng 22 giờ ngày 11/5/2021, Ngh điều khiển xe ô tô hiệu Ford Everest biển số: 49A-23497 chở theo bạn gái là Hứa Gia U đến gặp Đặng Bùi Thanh L, Đào Vĩnh A và Trương Hoàng Phi L đang ở tại quán cà phê Gấu ở khu HB, thành phố ĐL. Tại đây, Ngh rủ cả nhóm đi sử dụng ma túy thì được cả nhóm đồng ý. Ngay sau đó, Ngh điện thoại nói Nguyễn Ngọc Th thuê căn hộ, mua thuốc lắc và Ketamine để cho nhóm Ngh sử dụng, đồng thời Ngh rủ Th cùng sử dụng ma túy thì Th đồng ý. Th liên lạc với anh Huỳnh Phú Qu thuê căn nhà số 3.1 Khu du lịch NH, 91 HV, phường 11, ĐL với giá là 2.500.000 đồng; sau đó Th điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius biển số: 49D1-42410 đến khu vực quán bar Rain, đường LHP, phường 4, ĐL hỏi mua một người đàn ông (không rõ nhân thân lại lịch) 4 viên ma túy loại thuốc lắc và một hộp năm ma túy loại Ketamine với giá 7.000.000 đồng và được người đàn ông này cho thêm một gói thuốc lắc và một gói Ketamine. Số ma túy được cho thêm này Th cất vào túi quần đang mặc trên người. Sau khi mua được ma túy, Th điện thoại hẹn Ngh đến trước Hãng xe Ford đường HV, phường 11, thành phố ĐL để Th đón đến căn hộ đã thuê. Nhóm của Ngh di chuyển đến địa điểm đã hẹn với Th, Ngh chở U bằng xe ô tô hiệu Ford Everest biển số: 49A-23497, còn Lâm chở L, Vĩnh A bằng xe ô tô hiệu Huyndai Tucson biển số: 49A-36351, trên đường đi thì L có rủ thêm Nguyễn Ngọc Thùy A cùng đi sử dụng ma túy thì Thùy A đồng ý. Trong lúc đến điểm hẹn với Ngh, Th có rủ thêm bạn là Hoàng Đình H đi cùng, đồng thời Th có liên lạc với đối tượng tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê 01 loa và 02 đèn nhằm phục vụ việc sử dụng ma túy.

Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, Thìn đón nhóm của Ngh đến căn nhà 3.1 khu du lịch NH, 91 HV, Phường 11, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ. Khi vào căn hộ, Ngh nói L và Vĩnh A bê tấm nệm từ phòng “Rose” sang phòng “Cocolico”, rồi cả nhóm tập trung ngồi thành vòng tròn trên tấm nệm đặt trên sàn nhà ở trong phòng “Cocolico”. Th xuống phòng bếp ở tầng hầm lấy 02 tô và 01 đĩa sứ màu trắng đưa cho H cầm vào phòng, sau đó Th lấy gói nylon có 04 viên thuốc lắc và một gói nylon Ketamine để trên tấm nệm. Sau đó, Th bật nhạc và đèn chớp mà Th đã thuê của V để cho cả nhóm sử dụng ma túy, riêng số ma túy được cho thêm thì Th cất giấu trong túi quần jean đang mặc, không nói cho ai biết. Khi thấy Th đưa ma túy ra thì Ngh lấy 04 viên thuốc lắc cùng với một gói nylon đựng Ketamine đổ ra đĩa sứ, Ngh tự lấy một viên thuốc lắc bẻ đôi rồi uống với nước ngọt một nửa, nửa còn lại Ngh đưa cho U sử dụng. Số thuốc lắc còn lại, L, Thùy A, Vĩnh A, L, Th, H mỗi người tự lấy 1/2 viên sử dụng. Sau khi dùng hết thuốc lắc, Ngh đổ tiếp Ketamine trong gói nylon ra đĩa, rồi hỏi trong nhóm ai có thẻ nhựa để “xào” Ketamine thì được Vĩnh A đưa chiếc thẻ ngân hàng của mình cho Ngh. Ngh dùng chiếc thẻ này cà mịn Ketamine rồi chia thành nhiều đường thẳng. Lúc này, Ngh có lấy trong túi ra một tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ để trên nệm, Thùy A lấy tờ tiền này quấn thành ống hút. Sau khi chia thành từng đường ketamine xong, Nghĩa dùng ống hút do Thùy A quấn hít 02 đường ketamine, rồi những người còn lại tự lấy sử dụng. Một lúc sau Ngh có trả cho Th số tiền mua ma túy và thuê địa điểm là 10.000.000đ, Th cất vào trong túi quần để trong tủ quần áo trong phòng. Khi sử dụng hết ketamine trên đĩa, Hứa Gia U lấy thẻ nhựa của Đào Vĩnh A nghiền ketamine ra rồi lấy ống hút hít tiếp 01 đường, số ketamine còn lại những người khác tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 2 giờ ngày 12/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh LĐ kiểm tra, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật (BL:78-87, 98-255)

Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) gói nylon có kích thước khoảng 8cm x 3cm, trên miệng gói nylong có khóa kéo viền đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “01”;

+ 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn, trên đĩa có chất tinh thể màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ “BIDV”, “ DAO VINH A”, dãy số “511957050087010” và 01 (một) ống hút hình trụ (dạng ống hút) được làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ, được bọc bằng vỏ thuốc lá, tất cả được niêm phong trong giấy kẻ ngang có ký hiệu số “03”;

+ 01 (một) gói nylon màu trắng, một đầu được hàn kín, một đầu có rãnh kéo có viền màu đỏ, có kích thước khoảng 2cm x 3cm, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng nghi là ma túy;

+ 01 (một) gói nylon màu trắng, một đầu được hàn kín, một đầu có rãnh kéo có viền màu đỏ, có kích thước khoảng 3cm x 6cm, bên trong có chứa nhiều mảnh viên nén màu hồng nghi là ma túy;

+ 01(một) điện thoại Iphone, kiểu máy Iphone 7 Plus, có gắn thẻ sim số 0797976939; điện thoại bị bể góc bên trái phía trên màn hình cảm ứng, màn hình cảm ứng đã bị nứt, thu giữ của Nguyễn Ngọc Th;

+ 01 (một) điện thoại màu trắng, hiệu samsung Galaxy Note 20Ultra, có gắn sim: 078666664, 070744445;

+ 01(một) điện thoại di động màu xanh dương, hiệu Tphone 12 Pro có gắn sim số 097412343;

+ 01(một) loa cầm tay, màu xám có gắn lô gô “Harman/kardon”;

+ 01(một) đèn điện tử hình trụ tròn màu đen dán tem ROHS;

+ 01 (một) đèn điện tử hình hộp chữ nhật, có dán tem ghi chữ “K10”, bị bể kính

- chiếu;

+ Số tiền 10 triệu đồng gồm có 80 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và 04 tờ mệnh giá 500.000đ của Nguyễn Ngọc Th;

+ 01 Giấy CMND mang tên Nguyễn Ngọc Th;

+ 01 thẻ Ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Ngọc Th;

+ 01 Giấy CMND, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ Ngân hàng MB mang tên Trương Trung Ngh;

+ Số tiền 66.000.000đ của Trương Trung Ngh

+ 01 ôtô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng, biển số 49A - 234.

+ 01 xe ô tô hiệu Huyndai Tucson biển số: 49A-363

+ 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 49D1-4241(BL: 86-87).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh LĐ đã xử lý vật chứng trả lại cho bà Lê Thị Minh Tr, sinh năm: 1981, trú tại: 69 AB, Phường 4, Thành phố ĐL 01 xe ô tô hiệu Huyndai Tucson biển số 49A-36351; trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990, Trú tại: 42 hẻm TPh, phường 4, ĐL01 ô tô nhãn hiệu Ford Everest, biển số 49A - 234.9; trả lại cho bà Trần Thị Phúc, sinh năm 1979, trú tại: thôn Gan Thi, Gia Lâm, Lâm Hà, Lâm Đồng 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển số 49D1-42410 (BL: 298-301).

Tại bản kết luận giám định số 485/GĐ-PC09 ngày 17/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ kết luận:

+ Mẫu tinh thể (M1) (được thu giữ trong gói khăn giấy để trên tấm nệm trong phòng) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,2133g, loại Ketamine.

+ Mẫu tinh thể (M2) (được thu giữ trong túi quần Jean của Th) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3640g, loại Ketamine.

+ Mẫu các mảnh viên nén màu hồng (M3) (được thu giữ trong túi quần Jean của Th) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3345g, loại MDMA.

+ Mẫu tinh thể (M4) (được thu giữ trong gói khăn giấy để trên tấm nệm trong phòng) đựng trong một đĩa sứ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0828g, loại Ketamine.

Ketamine là chất ma túy, nằm trong Danh mục III, STT: 35, MDMA là chất ma túy, nằm trong Danh mục I, STT: 27 Nghị định 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (BL: 73-74).

Tại bản cáo trạng số 167/CT-VKS ngày 31/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố các bị cáo Trương Trung Ngh và Đào Vĩnh A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Đặng Bùi Thanh L và Hứa Gia U về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Ngọc Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Trung Ngh, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A khai nhận, vào khoảng 02 giờ 00 ngày 12/5/2022, tại nhà số 3.1, Khu du lịch NH, Phường 11, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Công an tỉnh LĐ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang các bị cáo Ngh, Th, L, U và A đang tổ chức sử dụng chất ma tuý và đã thu giữ tang vật như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; các bị cáo không thắc mắc khiếu nại đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Ngọc Th thừa nhận có cất giữ 02 gói ma túy trong túi quần jean cất trong tù quần áo trong phòng, nhưng không thừa nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà cho rằng nếu cả nhóm sử dụng hết số ma túy do Ngh đã đưa tiền mua thì Th sẽ lấy số ma túy này ra sử dụng tiếp, nếu sử dụng không hết thì sẽ vứt bỏ. Tuy nhiên, bị cáo Th khai nhận 02 gói ma túy bị Công an kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần jean để trong tù quần áo là của Th cất giữ để sử dụng và không khiếu nại gì đối với cáo trạng truy tố.

Bị cáo Đặng Bùi Thanh L không thừa nhận bản thân đã từng sử dụng ma túy; không biết việc Ngh rủ đi sử dụng ma túy và chỉ rủ Nguyễn Ngọc Thùy A đi chơi, nên không đồng ý nội dung cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trương Trung Ngh, Đặng Bùi Thanh L, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đồng thời, đề nghị áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Trung Ngh từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm t, s khoản 1 và 2 Điều 51 và các Điều 38; 54; 58 của Bộ luật hình sự xử phạt Đào Vĩnh A từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù và buộc bị cáo phải chấp hành thời gian 07 tháng 13 ngày tù còn lại theo quyết định tha tù trước thời hạn đối với bị cáo An. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự; xử phạt Đặng Bùi Gia L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự xử phạt Hứa Gia U từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma tuý” và từ 24 đến 30 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Th phải chấp hành chung cho cả hai tội theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử em xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Trung Ngh, Nguyễn Ngọc Th; Đặng Bùi Thanh L; Hứa Gia U và Đào Vĩnh A: Khoảng 22 giờ ngày 11/5/2021, Ngh đến gặp Đặng Bùi Thanh L, Đào Vĩnh A và Trương Hoàng Phi L đang ở tại quán cà phê Gấu ở khu HB, thành phố ĐL rủ cả nhóm đi sử dụng ma túy thì được cả nhóm đồng ý. Sau đó, Ngh điện thoại nói Nguyễn Ngọc Th thuê căn hộ, mua thuốc lắc và Ketamine để cho nhóm Ngh sử dụng, đồng thời Ngh rủ Th cùng sử dụng ma túy thì Th đồng ý. Thìn liên lạc với anh Huỳnh Phú Qu thuê căn nhà số 3.1 Khu du lịch NH, 91 HV, Phường 11, ĐL với giá là 2.500.000 đồng và đến khu vực quán bar Rain, đường L H Ph, Phường 4, Thành phố ĐL mua một người đàn ông (không rõ nhân thân lại lịch) 4 viên ma túy loại thuốc lắc và một hộp năm ma túy loại Ketamine với giá 7.000.000 đồng và được người đàn ông này cho thêm một gói thuốc lắc và một gói Ketamine. Sau khi mua được ma túy, Ngh chở U bằng xe ô tô hiệu Ford Everest biển số: 49A-2349, còn Lâm chở L, Vĩnh A bằng xe ô tô hiệu Huyndai Tucson biển số: 49A-3635, trên đường đi thì L có rủ thêm Nguyễn Ngọc Thùy A cùng đi sử dụng ma túy thì Thùy A đồng ý. Trong lúc đến điểm hẹn với Ngh, Th có rủ thêm bạn là Hoàng Đình H đi cùng, đồng thời Th có liên lạc với đối tượng tên V (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê 01 loa và 02 đèn nhằm phục vụ việc sử dụng ma túy.

Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, Th đón nhóm của Ngh đến căn nhà 3.1 khu du lịch NH, 91 HV, phường 11, thành phố ĐL, tỉnh LĐ. Khi vào căn hộ, Ngh nói L và Vĩnh A bê tấm nệm từ phòng “Rose” sang phòng “Cocolico”, rồi cả nhóm tập trung ngồi thành vòng tròn trên tấm nệm đặt trên sàn nhà ở trong phòng “Cocolico”. Thìn xuống phòng bếp ở tầng hầm lấy 02 tô và 01 đĩa sứ màu trắng đưa cho H cầm vào phòng, sau đó Th lấy gói nylon có 04 viên thuốc lắc và một gói nylon Ketamine để trên tấm nệm và bật nhạc và đèn chớp mà Th đã thuê của V để cho cả nhóm sử dụng ma túy, riêng số ma túy được cho thêm thì Th cất giấu trong túi quần jean đang mặc, không nói cho ai biết. Khi thấy Th đưa ma túy ra thì Ngh lấy 04 viên thuốc lắc cùng với một gói nylon đựng Ketamine đổ ra đĩa sứ, Ngh tự lấy một viên thuốc lắc bẻ đôi rồi uống với nước ngọt một nửa, nửa còn lại Ngh đưa cho U sử dụng. Số thuốc lắc còn lại, L, Thùy A, Vĩnh A, L, Th, H mỗi người tự lấy 1/2 viên sử dụng. Sau khi dùng hết thuốc lắc, Ngh đổ tiếp Ketamine trong gói nylon ra đĩa, rồi hỏi trong nhóm ai có thẻ nhựa để “xào” Ketamine thì được Vĩnh A đưa chiếc thẻ ngân hàng của mình cho Ngh. Ngh dùng chiếc thẻ này cà mịn Ketamine rồi chia thành nhiều đường thẳng. Lúc này, Ngh có lấy trong túi ra một tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đ để trên nệm, Thùy A lấy tờ tiền này quấn thành ống hút. Sau khi chia thành từng đường ketamine xong, Ngh dùng ống hút do Thùy A quấn hít 02 đường ketamine, rồi những người còn lại tự lấy sử dụng. Một lúc sau Ngh có trả cho Th số tiền mua ma túy và thuê địa điểm là 10.000.000đ, Th cất vào trong túi quần để trong tủ quần áo trong phòng. Khi sử dụng hết ketamine trên đĩa, Hứa Gia U lấy thẻ nhựa của Đào Vĩnh A nghiền ketamine ra rồi lấy ống hút hít tiếp 01 đường, số ketamine còn lại những người khác tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 02 giờ ngày 12/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh LĐ kiểm tra, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Tại kết luận số 485/GĐ-PC09 ngày 17/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ xác định:

+ Mẫu tinh thể (M1) (được thu giữ trong gói khăn giấy để trên tấm nệm trong phòng) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,2133g (một phẩy hai một ba ba gam), loại Ketamine.

+ Mẫu tinh thể (M4) (được thu giữ trong gói khăn giấy để trên tấm nệm trong phòng) đựng trong một đĩa sứ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0828g (không phẩy tám hai tám gam), loại Ketamine.

Ngoài ra, trong vụ án này, Nguyễn Ngọc Th còn cất giấu số ma túy được cho thêm thì Th cất giấu trong túi quần jean đang mặc, không nói cho ai biết. Th xác định mục đích cất giấu số ma tuý này là đề sử dụng.

Theo kết luận số 485/GĐ-PC09 ngày 17/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LĐ xác định: Mẫu tinh thể (M2) (được thu giữ trong túi quần Jean của Th) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3640g (một phẩy ba sáu bốn không gam), loại Ketamine. Và mẫu các mảnh viên nén màu hồng (M3) (được thu giữ trong túi quần Jean của Th) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3345g (không phẩy ba ba bốn năm), loại MDMA.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Bùi Thanh L không thừa nhận bản thân biết việc Ngh rủ đi sử dụng ma túy và không rủ Nguyễn Ngọc Thùy A cùng tham gia sử dụng ma túy. Tuy nhiên, tại biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/5/2021, L khai nhận “….khi gặp chúng tôi Ngh rủ tôi, L, A đi chơi tiếp, lúc này tôi hiểu là Ngh rủ chúng tôi đi chơi sử dụng ma túy, chúng tôi đồng ý , tôi chở L, Vĩnh A đi theo xe của Ngh. Trên đường đi thì tôi có điện thoại rủ Thùy A đi chơi cùng chúng tôi” (BL.82). Đồng thời, Nguyễn Ngọc Thùy A cũng khai nhận “…vào khoảng 22 giờ ngày 11/5/2021, tôi đang ở 50 Phù Đ T V, Phường 8, ĐL thì anh L có điện thoại rủ tôi đi chơi, tôi hiểu là đi sử dụng ma túy, tôi đồng ý (BL.84). Mặt khác, bị cáo Ngh khai nhận đã từng cùng Đặng Bùi Thanh L và Nguyễn Ngọc Thùy A sử dụng 2, 3 lần ma túy tại quán Karaoke với bạn bè (BL. 109; 111; 113) và bị cáo L khai nhận vào ngày 11/5/2021 “…tôi nằm một lúc thì nghe có người nói xong rồi xuống chơi thì tôi tỉnh dậy thấy 07 người đang ngồi trên chiếc nệm trong phòng, tôi xuống ngồi cùng mọi người. Thấy có đĩa sứ đựng ketamine và 01 ống hút quấn bằng tiền và viên thuốc lắc trong túi nylon trên bịch giấy, tôi tự lấy đĩa sứ hít tketamie bằng ống hút có sẵn rồi nằm ra nệm nghỉ cho đến khi Công an vào kiểm tra phát hiện…” (BL.222). Mặt khác, tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 12/5/2021, kết luận Đặng Bùi Thanh L dương tính ketamine và chính L viết vào biên bản xác nhận “tôi có sử dụng ma túy và thuốc lắc” (BL.207) và Nguyễn Ngọc Thùy A cũng Dương tính với ketamine (BL.172). Nên lời khai của Đặng Bùi Thanh L tại phiên tòa cho rằng bản thân trước đây chưa từng sử dụng ma túy và chỉ rủ Ngọc A đi chơi chứ không rủ sử dụng ma túy là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và sự thật khách quan của vụ án.

Xét thấy, các bị cáo Trương Trung Ngh, Bùi Đặng Gia L, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A đều đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đều là đối tượng sử dụng ma túy. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của các bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; lời khai của các bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Trương Trung Ngh và Đào Vĩnh A đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Bùi Đặng Gia L và Hứa Gia U phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Ngọc Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 167/CT-VKS ngày 31/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không bàn bạc, phân công cụ thể. Xét vai trò, hành vi của từng bị cáo thì thấy, Trương Trung Ngh là người khởi xướng, rủ rê Hứa Gia U, Đào Vĩnh A, Đặng Bùi Thanh L, Trương Hoàng Phi L sử dụng ma túy. Nghĩa nhờ Nguyễn Ngọc Th thuê địa điểm, mua ma túy cho cả nhóm sử dụng. Trong quá trình sử dụng ma túy, Ngh là người đưa thuốc lắc cho Hứa Gia U sử dụng, mượn thẻ nhựa của Đào Vĩnh A cà mịn Ketamine, cung cấp tờ tiền để Nguyễn Ngọc Thùy A quấn thành ống hút sử dụng ma túy, đóng vai trò là người chỉ huy, phân công, điều hành hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này. Đối với Nguyễn Ngọc Th là người trực tiếp thuê địa điểm, mua ma túy, thuê loa đèn cho cả nhóm sử dụng theo yêu cầu của Trương Trung Ngh. Th còn rủ Hoàng Đình H đến cùng sử dụng ma túy; chuẩn bị đĩa sứ; bật loa; đèn để tăng hưng phấn cho cả nhóm sử dụng ma túy, thực hiện một cách tích cực, trực tiếp chuẩn bị các dụng cụ và ma tuý để cả nhóm cùng sử dụng, với vai trò quan trọng không kém bị cáo Ngh nên có mức án thấp hơn bị cáo Ngh nhưng cao hơn các bị cáo khác trong vụ án này.

Các bị cáo Bùi Đặng Thanh L, sau khi được Nghĩa rủ đi sử dụng ma túy thì L đồng ý rồi rủ thêm Nguyễn Ngọc Thùy A đi chơi cùng để sử dụng ma túy; bị cáo hứa Gia U Sau khi mọi người sử dụng hết Ketamine trên đĩa, U dùng thẻ nhựa của Đào Vĩnh A tiếp tục cà mịn Ketamine cho bản thân và những người khác sử dụng; bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy A, là người dùng tờ tiền do Trương Trung Ngh đưa quấn thành ống hút để cả nhóm sử dụng ma túy. Còn Đào Vĩnh A sau khi nghe Ngh mượn thẻ nhựa thì đưa thẻ để Trương Trung Ngh và Hứa Gia U cà mịn Ketamine cho nhiều người sử dụng, các bị cáo tham gia với vai trò như nhau nên có mức án tương xứng với từng hành vi mà các bị cáo thực hiện.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Do các bị cáo Trương Trung Ngh, Nguyễn Ngọc Th, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo Đào Vĩnh A bị truy nã đã tự nguyện ra đầu thú và chủ động liên hệ cung cấp thông tin cho Cơ quan cảnh sát điều tra đến các đối tượng gây án, giúp cơ quan Công an kịp thời phát hiện tội phạm nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trương Trung Ngh và Đào Vĩnh A phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung tăng nặng đối với các bị cáo Ngh và A.

Trong trong thời gian thử thách còn lại 07 (bảy) tháng 13 ngày, tình từ ngày 26/01/2021 theo Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện số 09/2021/HSST-QĐ ngày 11/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh LĐ, Đào Duy A lại thực hiện hành vi phạm tội mới, nên phải tổng hợp hình phạt tù còn lại nêu trên theo quy định.

Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc Thuỳ A bỏ trốn khỏi nơi cư trú Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã, tạm đình chỉ và tách vụ án để xử lý sau.

Đối với Huỳnh Phú Q, khi cho Thìn thuê căn nhà 3.1 khu du lịch NH - số 91 đường HV, Phường 11- ĐL, Q không biết việc Th thuê với mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy, nên không có cơ sở để xử lý Q về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong vụ án này có, Trương Hoàng Phi L, Hoàng Đình H là những người bị bắt quả tang khi cùng nhóm các bị can sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định, L và H không tham gia vào quá trình tổ chức sử dụng ma túy nên không có cơ sở xử lý.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có đối tượng là một người đàn ông đã bán ma túy cho Th và đối tượng tên “V” đã cho Th thuê loa đèn, không rõ nhân thân, lai lịch của 02 người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 (một) gói nylon có kích thước khoảng 8cm x 3cm, trên miệng gói nylon có khóa kéo viền đỏ; 01 (một) gói nylon màu trắng, một đầu được hàn kín, một đầu có rãnh kéo có viền màu đỏ, có kích thước khoảng 2cm x 3cm, bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng; 01 (một) gói nylon màu trắng, một đầu được hàn kín, một đầu có rãnh kéo có viền màu đỏ, có kích thước khoảng 3cm x 6cm, bên trong có chứa nhiều mảnh viên nén màu hồng. Qua giám định đều xác định là chất ma túy, là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Thu giữ 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình tròn, trên đĩa có chất tinh thể màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ “BIDV”, “ DAO VINH A”, dãy số “511957050087010”, là dụng cụ sử dụng ma túy, xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) ống hút hình trụ (dạng ống hút) được làm bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ và số tiền 10 triệu đồng gồm có 80 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và 04 tờ mệnh giá 500.000đ của Nguyễn Ngọc Th, làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với các tài sản gồm 01(một) điện thoại Iphone 7 Plus, có gắn thẻ sim số 079797693 của Nguyễn Ngọc Th; 01(một) điện thoại di động màu xanh dương, hiệu Iphone 12 Pro có gắn sim số 097412343; 01(một) loa cầm tay, màu xám có gắn lô gô “Harman/kardon”; 01 (một) đèn điện tử hình trụ tròn màu đen dán tem ROHS; 01 (một) đèn điện tử hình hộp chữ nhật, có dán tem ghi chữ “K10”, bị bể kính - chiếu, là công cụ phạm tội nên tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước.

Riêng 01 (một) điện thoại màu trắng, hiệu Samsung Galaxy Note 20Ultra, có gắn sim số 078666664, 070744445; 01(một) thẻ Ngân hàng MB; 01 (một) Giấy Chứng minh nhân dân; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Trương Trung Ngh, và số tiền 66.000.000đ của Trương Trung Ngh; 01 (một) Giấy CMND mang tên Nguyễn Ngọc Th; 01(một) thẻ Ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Ngọc Th; 01(một), xét thấy không liên quan đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho các bị cáo.

+ Riêng 01(một) ôtô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng, biển số 49A - 234.9; 01 (một) xe ô tô hiệu Huyndai Tucson biển số: 49A-3635; 01(một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đen, biển số 49D1- 4241, quá trình điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trương Trung Ngh, Bùi Đặng Gia L, Hứa Gia U và Đào Vĩnh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1.1. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Trung Ngh 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2021.

1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chấp hành chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2021.

1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Bùi Thanh L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2022.

1.4. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm t, s khoản 1 và 2 Điều 51 và các Điều 38; 54; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Vĩnh A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2022.

1.5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hứa Gia U 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:

- 01 (một) phong bì niêm phong số 485/2021-PC09.

- 01 (một) đĩa sứ màu trằng hình tròn; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ BIDV, DAO VINH N.

2.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01(một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (được quấn làm ống hút) và số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) (theo Giấy nộp tiền ngày 23/8/2022 của Ngân hàng Agribank).

2.3. Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước 01 (một) loa hiệu Harman màu xám; 01 (một) đèn điện tử hình tròn màu đen có chữ ROHS; 01(một) đèn điện tử hình hộp chữ nhật màu đen có ký hiệu K10; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus có sim số 079797693 của Nguyễn Ngọc Th và 01(một) điện thoại di động màu xanh dương, hiệu Iphone có gắn sim số 097412343 của Trương Trung Ngh;

2.4. Trả cho các bị cáo:

2.4.1. Trương Trung Ngh 01 (một) điện thoại màu trắng, hiệu samsung Galaxy Note 20Ultra, có gắn sim: 078666664 và 070744445; 01 (một) giấy phép lái xe; 01 (một) thẻ Ngân hàng MB đều mang tên Trương Trung Ngh và số tiền 66.000.000đ (sáu mươi sáu triệu đồng) (theo Giấy nộp tiền ngày 23/8/2022 của Ngân hàng Agribank).

2.4.2. Nguyễn Ngọc Th 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân; 01 (một) thẻ Ngân hàng Vietinbank đều mang tên Nguyễn Ngọc Th.

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 10/8/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc Trương Trung Ngh, Bùi Đặng Gia L, Nguyễn Ngọc Th; Hứa Gia U và Đào Vĩnh A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được bản sao hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ