- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Lịch - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2023/HS-PT Ngày 16 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Nga
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Tiến Hiệp
Bà Đinh Thị Quý Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 122/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Vũ Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2022/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Văn L, sinh năm 1994, tại tỉnh N; nơi cư trú: Thôn 2, xã B, huyện B1, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn D (đã chết) và bà Trần Thị L; bị cáo có 03 người em, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2021 đến ngày 26/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn L: Ông Bùi Gia N là Luật sư của Văn phòng Luật sư Bùi Gia N thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước (có mặt)
Địa chỉ: Số 455 Quốc lộ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Mai Văn Tr nhưng người này không có kháng cáo và không bị Viện kiểm sát kháng nghị nên Tòa án không triệu tập để tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 26/11/2021, Mai Văn Tr , Vũ Văn L và Nguyễn Thị Thuỳ Tr1 ngồi uống rượu tại quán “Phố” thuộc thị trấn Đ, huyện B1, tỉnh Bình Phước, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì nghỉ. Lúc này, Tr nói nhỏ với L “đến nhà nghỉ N kiếm tý chơi” (có nghĩa là đi sử dụng ma tuý) thì L đồng ý. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô biển số: 93L1-223.44 (mượn của anh Đỗ Duy K), còn L điều khiển xe mô tô biển số: 93L1-280.46 (mượn của bà Trần Thị L) chở Tr1 đến nhà nghỉ “Tố Như” thuộc khu phố Đ1, thị trấn Đ, huyện B1 thuê phòng số 5B. Sau khi vào phòng, Tr nói với L góp tiền mua ma tuý về sử dụng, L đưa cho Tr 2.000.000 đồng, Tr cầm tiền đi xuống cổng nhà nghỉ gặp một người phụ nữ (chưa rõ lý L) đã liên hệ từ trước mua 4.000.000 đồng ma tuý đựng trong gói nilon. Mua xong, Tr mang lên phòng lấy một ít ma tuý đổ vào đĩa, số ma túy còn lại Tr để lên mặt tủ trong phòng. Sau đó, Tr mượn thẻ ATM của Tr1 kẻ ma túy ra làm nhiều đường, còn L dùng tờ tiền 2.000 đồng cuộn tròn lại làm ống hút đưa cho Tr sử dụng trước (bằng cách hít ma túy vào mũi), tiếp theo, L và Tr1 cùng sử dụng và mở nhạc nằm nghe. Trong lúc sử dụng ma túy, L gọi điện cho em trai là Vũ Văn Tr2 mang đèn LED đến nhà nghỉ cho L. Một lúc sau, Vũ Văn Tr cùng Nguyễn Thành Ng mang đèn đến phòng số 5B đưa cho L. Mai Văn Tr và L cho Vũ Văn Tr2 và Nguyễn Thành Ng cùng sử dụng ma túy và nghe nhạc. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/11/2021, Công an huyện B1 phối hợp với Công an thị trấn Đ kiểm tra nhà nghỉ “Tố Như” phát hiện tại phòng 5B có Mai Văn Tr , Vũ Văn L, Nguyễn Thị Thuỳ Tr1, Vũ Văn Tr2 và Nguyễn Thành Ng, đồng thời phát hiện trên nệm có 01 đĩa bằng sứ màu trắng có dính ma túy, một tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được cuộn tròn, 01 thẻ ATM màu xanh, trên mặt tủ gỗ có một loa nghe nhạc, một đèn led màu trắng và 01 gói nilon ma túy, Cơ quan công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Văn Tr và Vũ Văn L về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ, niêm phong vật chứng để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số: 312/2021/GĐ-MT ngày 02/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Phước, kết luận:
- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1 có chữ ký của Mai Văn Tr và Vũ Văn L) có trong 01 gói nylon miết khoá được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là: 0,8613 gam.
- Chất bột màu trắng (ký hiệu M2 có chữ ký của Mai Văn Tr và Vũ Văn L) bám dính trên 01 đĩa sứ màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là: 0,2244 gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Mai Văn Tr và Vũ Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Mai Văn Tr 07 năm 06 tháng tù (bảy năm, sáu tháng). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2021 đến ngày 26/01/2022.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 07 năm tù (bảy năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2021 đến ngày 26/01/2022.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/9/2022, bị cáo Vũ Văn L có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Toà án cấp sơ thẩm đã xác định và xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Văn L được thực hiện trong thời hạn luật định, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Toà án cấp sơ thẩm đã xác định. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 07 năm tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Tr là người khởi xướng, rủ rê bị cáo L cùng tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo L tham gia với vai trò thấp hơn bị cáo Tr, cha của bị cáo mất sớm, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu.
Vì vậy, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Do đó, cần sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Vũ Văn L được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Văn L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2021 đến ngày 26/01/2022.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Văn L không phải chịu.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước;
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
- PV (06) Công an tỉnh Bình Phước;
Đã ký
- TAND, VKSND huyện Bù Đăng;
- Chi cục THADS huyện Bù Đăng;
- Công an huyện Bù Đăng;
- Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Tổ HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thư
Nguyễn Viết Hùng
Phạm Tiến Hiệp
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước; (1) - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; (1) - TAND, VKSND TP. Đ; (2) - Chi cục THADS TP. Đ; (1) - Công an TP. Đ; (1) - Cổng thông tin điện tử Toà án nhân dân tối cao; - Bị cáo; (1) - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nhân |