- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thi H - Lò Văn B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị H được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN B Bản án số: 06/2023/HNGĐ-ST Ngày 30-01-2023 "V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý A Th
Ông Trịnh Quyết Th
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị L, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị M - Kiểm sát viên.
Ngày 30/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2022/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2022 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 14/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G giữa:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 1992
Địa chỉ: Bản C, xã Mường L, huyện Mường T, tỉnh Điện B, vắng mặt có lý do.
Bị đơn: Anh Lò Văn B, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Bản Ph, xã Chiềng Đ, huyện Tuần G, tỉnh Điện B.
Hiện anh Bang đang chấp hành án tại đội 22, phân trại số 2, trại giam Tân L, xã Vô Tr, huyện Hạ H, tỉnh Phú Th, vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 27/10/2022, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn B qua tự nguyện tìm hiểu đã tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mường L, huyện Mường T, tỉnh Điện B vào ngày 17/12/2012. Hôn nhân là tự nguyện không ai bị ép buộc. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn do quan điểm bất đồng vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hơn nữa anh B còn nghiện ma túy thường xuyên mang tài sản gia đình đi bán và đánh đập chị nhiều lần. Mặc dù gia đình hai bên nội ngoại khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Hiện anh B đang chấp hành án tại đội 22, phân trại số 2, trại giam Tân L, xã Vô Tr, huyện Hạ H, tỉnh Phú Th. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lò Văn B.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung: Cháu Lò Văn M, sinh ngày 21/6/2013 và Lò Thị H, sinh ngày 01/7/2015, hiện hai cháu đang ở cùng chị tại bản C, xã Mường L, huyện Mường T, tỉnh Điện B. Khi ly hôn nguyện vọng chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu đến khi thành niên, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.
Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B đã gửi công văn số 03/CV-TA ngày 01/11/2022, đề nghị Trại Giam Tân L tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ liên quan, các văn bản tố tụng và hướng dẫn anh Bang viết bản tự khai và thủ tục tố tụng khác. Tại bản tự khai có xác nhận của Trại Giam Tân L, anh B thừa nhận về quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn, do anh vi phạm pháp luật nên hiện đang chấp hành án, anh nhất trí ly hôn. Về quan hệ con chung anh nhất trí như ý kiến chị Hiền, anh nhất trí giao hai cháu Lò Văn M sinh ngày 21/6/2013 và Lò Thị H, sinh ngày 01/7/2015 cho chị H nuôi dưỡng trong thời gian anh chấp hành án.
Về quan hệ tài sản: Không có.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 05/12/2022 anh B cũng có đơn xin vắng mặt. Tòa án nhân dân huyện Tuần G đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho anh B.
Ngày 13/01/2023, Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật: Về thẩm quyền và trình tự thủ tục Thẩm phán, thư ký Tòa án và Hội đồng xét xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị H được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn B theo Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình: Giao hai cháu Lò Văn M sinh ngày 21/6/2013 và Lò Thị H, sinh ngày 01/7/2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Lò Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Không có
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lò Thị H là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, đề nghị HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần G theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
. Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn B lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 17/12/2012. Đến thời điểm giải quyết, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đang có hiệu lực, do vậy Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
. Việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn B đều có đơn xin xét xử vắng mặt: HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết, do anh B đang chấp hành án nên không thể có mặt tại Tòa án để tham gia hòa giải, anh có có đơn xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị H cũng có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ Luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn B lấy nhau có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh chị đã được sự thừa nhận của anh B do anh B nghiện ma túy dẫn đến phải chấp hành án tại đội 22, phân trại số 2, trại giam Tân L, xã Vô Tr huyện Hạ H, tỉnh Phú Th, anh nhất trí ly hôn.
HĐXX xét thấy: Qua lời khai của chị H, sự thừa nhận của anh B, qua quá trình Tòa án thu thập chứng cứ xác minh tình trạng hôn nhân đủ cơ sở khẳng định nguyên nhân chị H và anh B đã ly thân từ năm 2015, đến 23/8/2016 anh B bị bắt và hiện đang chấp hành án. Từ những phân tích trên đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của chị Hiền và anh Bang đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Mục đích hôn nhân là vợ chồng gần gũi, thương yêu chăm sóc, quý trọng giúp đỡ lẫn nhau không có, quan hệ hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn với anh B cần được chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Lò Văn B đều công nhận anh chị có 02 con chung là Lò Văn M, sinh ngày 21/6/2013 và Lò Thị H, sinh ngày 01/7/2015.
HĐXX xét thấy: Qua lời khai của chị H và theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và điều kiện nuôi con ngày 01/11/2022 có xác nhận của chính quyền địa phương thì hai cháu M và H đang ở với chị H, chị có thu nhập ổn định vừa làm ruộng vừa làm thuê có đủ điều kiện khả năng nuôi dưỡng con chung, anh B đang chấp hành án nên không thể có đủ khả năng nuôi dưỡng con chung, anh B cũng nhất trí giao hai con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Hai cháu M và H đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, HĐXX căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quyết định giao hai cháu Lò Văn M, sinh ngày 21/6/2013 và Lò Thị H, sinh ngày 01/7/2015 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về quan hệ tài sản: Tài sản chung, tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về: chị H và anh B đều thừa nhận không có.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lò Thị H là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị H.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 238 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình:
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị H được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn B.
2. Về con chung: Giao hai cháu Lò Văn M, sinh ngày 21/6/2013 và Lò Thị H, sinh ngày 01/7/2015 cho chị Lò Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Lò Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị H
5. Về quyền kháng cáo: Chị Lò Thị H, anh Lò Văn B được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND tỉnh Điện B;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND huyện Tuần G;
- Chi cục THADS huyện TG;
- UBND xã Mường L, huyện MA; (Nơi ĐKKH);
- Các đương sự;
- Lưu HS.
Lê Đình H
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM
THÀNH VIÊN HĐXX
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Đình Hà
Bạc Thị Kiên Lò Văn Ơn
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu của anh
Anh Dương Xuân Lương có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu trên theo quy định của pháp luật.
{6} Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Ông Nguyễn Xuân Vương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Xuân Vương. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Điện Biên có đơn xin giải quyết vắng mặt, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.
Về sự vắng mặt của người làm chứng: Phiên tòa ngày 27 và 28/12/2018 chỉ có anh Duẩn, chị Làn, chị Lương có mặt. Ông Bùi Quang Minh, anh Loan, anh Yên, ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Văn Khuê vắng mặt.Xét thấy sự vắng mặt của những người làm chứng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, HĐXX tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung (Bỏ)
Khoản 2 Điều 71; Điều 72; Điều 218, khoản 2 Điều 219, Điều 273 và khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 165; Điều 166 BLTTDS năm 2015;
Căn cứ Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986;
Căn cứ Điều 27 và Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều: Điều 27; Điều 37; khoản 1 Điều 56; Điều 59; Điều 62; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 176 BLDS năm 1995, khoản 1 Điều 2 Luật đất đai năm 1993; Điều 166, 167, 170 và Điều 179 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư pháp ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật HNGĐ năm 2014;
Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a, b, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI THẨM Bạc Thị Kiên
Lê Đình Hà
Lò Văn Thương
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Điện Biên; - Các đương sự; - Lưu HS, DS. Vương Quốc Khương văn phòng không có hồ sơ lưu. Đối với việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2013 cho anh Vương Văn Khương là do hợp thửa 314 và 327, không thể hiện số diện tích mua của anh Lò Văn Yên, bởi đất anh Lò Văn Yên là đất lúa (Đưa vào phần nhận định) Văn Khuê đều xác nhận và cam đoan tại bản tự khai có việc mua bán chuyển nhượng viết tay với ông Vương Quốc Hùng về thời gian bán, số tiền mua bán chuyển nhượng và diện tích mua bán như lời khai của anh Khương và ông Hùng, việc mua bán đã hoàn thành, đất trên đã làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất mang tên anh Khương, đều không có ý kiến gì khác. Vương Văn Khương, chị Nguyễn Thị Vân, Tòa án quyết định đưa ông Vương Quốc Hùng - Bà Ngô Thị Miễn, Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất đai huyện Điện Biên, ông Nguyễn Xuân Vương, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Điện Biên, phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Điện Biên, anh Phạm Văn Định, chị Bùi Thị Thúy Vân với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đưa ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Văn Khuê, anh Lò Văn Loan, Lò Văn Yên, anh Vương Quốc Đại, anh Vương Minh Duẩn, chị Vương Thị Làn, chị Vương Thị Kim Lương và ông Bùi Quang Minh với tư cách là người làm chứng trong vụ án ông Hà Văn Khuê 500m2, mua của ông Phạm Văn Khuê 500m2, khai phá thêm 205 m2. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 là 2000m2. Sau đó anh Khương bán cho ông Hải 112m2, bán cho bà Hòa 110m2. Mua lại của ông Loan ( anh trai ông Yên là 600m2. Thực tế diện tích đất hiện đã trao đổi mua bán và khai phá thêm là 2000m2 – 222m2 + 600m2 + 205 m2 = 2.583 m2, lớn hơn so với diện tích đất hiện có là 2.205m2 anh chị bán cho ông Hải 112m2, bán cho bà Hòa 110m2. Mua lại của Lò Văn Loan (ông Yên 600 m2. Thực tế diện tích đất hiện đã trao đổi mua bán là 2000 m2 - 222m2 + 600 m2 = 2.378 m2 lớn hơn so với diện tích đất hiện có sau khi cấp đổi sổ là 2.205m2 phá thêm 205 m2 là đất thuộc hàng lang suối liền kề thửa đất nên không thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần mua thêm 600 m2 của Lò Văn Loan (Lò Văn Yên) thì khi mua cả hai không tiến hành đo đạc. Còn thủ tục chuyển nhượng từ ông Lò Văn Loan sang tên anh Khương do anh Loan có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng, cụ thể diện tích đo đạc thế nào và hợp đồng ra sao cả hai không năm được, sau này anh và ông Hùng mới biết thực tế diện tích chuyển nhượng theo đo đạc của địa chính là 556 m2 chứ không phải 600 m2 khi hai bên viết giấy chuyển nhượng tay với nhau không có sự chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Nhưng năm 2013 khi cấp đổi sổ, địa chính đã đo vẽ lại nên chỉ có diện tích đất như hiện tại. Do anh Khương không hợp tác trong việc thẩm định tại chỗ lần 2 và lần 3 nên không có căn cứ để xác định diện tích đất thực tế hiện có so với giấy chứng nhận xin cấp đổi GCNQSDĐ cán bộ địa chính đã đo vẽ lại đúng diện tích đất đang sử dụng và đúng với kết quả đo đạc thẩm định tại chỗ lần 1 của Tòa án. Anh, chị không mua, bán hay khai phá thêm nên đây là chứng cứ không cần chứng minh. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Đình Hà - Ý kiến ông Vũ Tân Cương: Đối với hồ sơ cấp đất năm 2001 cho hộ ông Người làm chứng: Lò Văn Yên, Lò Văn Loan, Ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đơn đề nghị, ý kiến của anh Đối với diện tích đất ông Hùng khai: Được chia năm 1995 là 1.000m2, mua của Chị Vân cũng khai: ông Hùng cho 10002, mua lại của ông Hùng1000m2. Sau đó Diện tích đất đang chênh lệch này ông Hùng và anh Khương cho rằng phần khai quyền sử dụng đất đã cấp. Tuy nhiên cả hai anh chị và ông Hùng đều khẳng định khi |