- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HS-ST Ngày 24 - 5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Biên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Tiến
Ông Hoàng Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2019/TLST - HS, ngày 26 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2019/QĐXXST - HS, ngày 10 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Quang H, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1989, tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H và bà Vũ Thị C; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: 05 tiền án, năm 2009 bị Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản; năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tổng hợp hình phạt với bản án năm 2009 là 24 tháng tù; năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 01 năm 2019; có mặt.
- Bị hại: Anh Hoàng Tiến H, sinh năm 1981
Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2019, Lê Quang H mượn xe mô tô BKS 15E1- 031.79 của chị Lê Thị Huyền T (em gái của H) chở khách lên vườn Quốc Gia Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Trên đường trở về khi qua nhà hàng Động Trung Trang thuộc khu vực Vườn Quốc Gia Cát Bà, H phát hiện thấy có phòng không khóa cửa nên nảy sinh mục đích trộm cắp tài sản. Lê Quang H để xe mô tô ở lề đường và đi vào bên trong phòng nhìn thấy 01 điện thoại Samsung J7 pro vỏ màu đen đang sạc pin ở trên giường, 01 điện thoại Samsung J5 vỏ màu vàng để trên bàn và 01 chiếc ví để trên ghế. Lê Quang H lấy 02 chiếc điện thoại cất vào túi áo và mở ví lấy 1.000.000 đồng sau đó H điều khiển xe mô tô về thị trấn Cát Bà. Lê Quang H mang chiếc điện thoại Samsung J7 pro ra cửa hàng điện thoại Quang M ở tổ dân phố X, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải bán cho chủ cửa hàng là chị Đỗ Thị N được 400.000 đồng, còn điện thoại Samsung J5 Hiệp mang về nhà cất giấu vào tủ quần áo trong phòng ngủ của Hiệp.
Cùng ngày anh Hoàng Tiến H có đơn trình báo Công an huyện Cát Hải về việc mất số tài sản nêu trên. Công an huyện Cát Hải đã triệu tập Lê Quang H đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên và giao nộp số tiền 1.400.000 đồng và 01 điện thoại Samsung J5. Công an huyện Cát Hải tiếp tục thu giữ chiếc điện thoại Samsung J7 pro tại cửa hàng Quang M.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐGĐ, ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cát Hải kết luận: 01 điện thoại Samsung galaxy J5 vỏ màu vàng đã qua sử dụng trị giá 675.000 đồng, 01 điện thoại Samsung galaxy J7 pro vỏ màu đen đã qua sử dụng trị giá 3.594.000 đồng.
Lê Quang H bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 01 năm 2019.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải đã trả lại cho anh Hoàng Tiến H toàn bộ số tài sản mà Lê Quang H trộm cắp.
Đối với chị Đỗ Thị N là người mua chiếc điện thoại Samsung J7 pro do không biết đó là tài sản do H trộm cắp nên Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải đã trả lại cho chị số tiền đã mua điện thoại của H.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 15E1- 031.79 là của chị Lê Thị Huyền T, do chị T không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2019, bị cáo mượn xe mô tô của em gái chở khách lên vườn Quốc Gia Cát Bà. Trên đường trở về khi qua nhà hàng Động Trung Trang thuộc khu vực vườn Quốc Gia Cát Bà, bị cáo phát hiện thấy có phòng không khóa cửa nên nảy sinh mục đích trộm cắp tài sản. Bị cáo đi vào phòng trộm cắp của anh Hoàng Tiến H 02 chiếc điện thoại và 1.000.000 đồng sau đó bị cáo điều khiển xe mô tô về thị trấn Cát Bà mang chiếc điện thoại Samsung J7 pro ra cửa hàng điện thoại Quang M bán cho chị Đỗ Thị N được 400.000 đồng, còn điện thoại Samsung J5 bị cáo mang về nhà cất giấu vào tủ quần áo trong phòng ngủ của bị cáo cùng với số tiền trộm cắp và tiền bán điện thoại. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày bị cáo bị Công an huyện Cát Hải triệu tập đến làm việc, bị cáo tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại và số tiền trộm cắp cùng với số tiền bán điện thoại.
Bị hại anh Hoàng Tiến H khai tại Cơ quan điều tra: Vào trưa ngày 22 tháng 01 năm 2019, anh đi cắt cỏ tại khu vực nhà hàng, đến khoảng 15 giờ 10 phút anh về phòng thì phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại: 01 chiếc điện thoại Samsung J7 pro, 01 chiếc điện thoại Samsung J5 và số tiền 1.000.000. Khoảng 17 giờ anh dùng số điện thoại của mẹ anh để gọi vào số điện thoại của anh bị mất, tuy nhiên cả 02 máy không có ai trả lời. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày anh thấy số điện thoại của anh gọi điện lại cho số máy của mẹ anh, người ở đầu bên kia xưng là H ở khu nhà T. Sau khi biết đối tượng trên anh đã đi trình báo Công an huyện Cát Hải. Công an huyện Cát Hải đã thu giữ toàn bộ số tài sản bị mất và trả lại cho anh và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đỗ Thị N khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2019 chị đang ngồi trông cửa hàng điện thoại Quang M thì có một thanh niên không quen biết vào muốn bán cho chị một chiếc điện thoại di động loại máy Samsung J7 pro màu đen. Chị cầm xem thì thấy máy khóa màn hình, chị nói với anh ta mở mật khẩu, anh ta nói: máy dùng đã lâu nhưng mới đổi mật khẩu và đã quên mất nên không dùng được mới đem ra bán. Chị hỏi lại máy của anh ta hay máy của ai, anh ta khẳng định là máy của mình. Sau đó chị đồng ý mua chiếc máy điện thoại trên với giá 400.000 đồng. Buổi tối cùng ngày chị được Công an huyện Cát Hải mời lên làm việc chị mới biết người thanh niên bán điện thoại cho chị tên là Lê Quang H và chiếc điện thoại chị mua là tài sản H trộm cắp. Chị N tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại mua của Lê Quang H đồng thời nhận lại số tiền đã mua chiếc điện thoại nói trên và không yêu cầu bồi thường thêm.
Từ những hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 10/CT - VKS, ngày 26 tháng 4 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Quang H về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải giữ quyền công tố và tranh luận hành vi phạm tội của bị cáo là lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để rồi chiếm đoạt tài sản của họ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 5.269.000 đồng. Bị cáo đã có 05 tiền sự về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, hành vi phạm tội lần này là Tái phạm nguy hiểm. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản như bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Quang H từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh cũng như về hình phạt, tuy nhiên bị cáo biết mình vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, với cộng đồng để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự đồng thời được Viện Kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản bắt người để tạm giam, thu giữ tang vật, Quyết định trưng cầu định giá tài sản, Kết luận định giá tài sản đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các giấy tờ tố tụng cho bị can, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người được thạm gia tố tụng tại phiên tòa.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
- Về chứng cứ:
Bị cáo Lê Quang H Khai: Buổi chiều ngày 22 tháng 01 năm 2019, bị cáo có trộm cắp của anh Hoàng Tiến H 02 chiếc điện thoại và 1.000.000 đồng tại nhà hàng Động Trung Trang. Bị cáo mang chiếc điện thoại Samsung J7 pro ra cửa hàng điện thoại Quang M bán cho chị Đỗ Thị N được 400.000 đồng, còn điện thoại Samsung J5 bị cáo mang về nhà cất giấu cùng với số tiền trộm cắp và tiền bán điện thoại. Sau đó bị cáo bị Công an huyện Cát Hải triệu tập đến làm việc và tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cất giấu tại nhà cùng với số tiền trộm cắp và tiền bán điện thoại.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐGĐ, ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cát Hải kết luận: 01 điện thoại Samsung galaxy J5 vỏ màu vàng đã qua sử dụng trị giá 675.000 đồng, 01 điện thoại Samsung galaxy J7 pro vỏ màu đen đã qua sử dụng trị giá 3.594.000 đồng.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, cũng như chấp nhận Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS, ngày 26 tháng 4 năm 2019 truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Lời khai trên đây của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- Về áp dụng pháp luật:
Hành vi phạm tội của bị cáo là lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người có tài sản để rồi chiếm đoạt tài sản của họ. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 5.269.000 đồng.
Bị cáo đã có 05 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, hành vi phạm tội lần này đã cấu thành tình tiết định khung Tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Từ những phân tích trên đây có đủ cơ sở để kết luận: Lê Quang H phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên bị cáo có 05 tiền án về tội Trộm cắp tài sản tính đến ngày phạm tội chưa được xóa án tích như vậy lần phạm tội này bị cáo phạm tội có tình tiết định khung Tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xét xử để làm gương răn đe kẻ khác đồng thời cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tính giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, mặt khác tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn đã thu hồi trả lại ngay cho bị hại do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, với cộng đồng để làm lại cuộc đời.
Trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại, mặt khác bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại được số tiền mua điện thoại và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mức chịu án phí căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lê Quang H 38 (ba mươi tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23 tháng 01 năm 2019.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm trong trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hải Phòng; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Trại giam CA TP. Hải Phòng; - PV 27 Công an TP. Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cát Hải; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải; - Công an huyện Cát Hải; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng Biên |