vanban.org

Bản án 06/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 09/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phan Thị N và Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phan Thị N 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Xử phạt Lê Thị T 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị N và Lê Thị T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phan Thị N và Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------
Bản án số: 06/2018/HSST
Ngày 09/02/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hán

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễ n Thanh Phong

2. Bà Nguyễ n Thị Chinh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tạ Thanh Hoàng – Thư ký Tò a á n nhân dân huyệ n Krông Năng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễ n Đăng Khoa – Kiểm sát viên.

Trong cá c ngà y 07 và 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n

Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2018/HSST ngà y 10 tháng 01 năm 2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/HSST-QĐ ngà y 12 tháng 01 năm 2018, đối với cá c bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Thị N – Sinh năm 1987 tại Hà Tĩnh.

Nơi cư trú : Thôn T, xã E, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Phan Đì nh H; con bà : Hoàng Thị H; có chồng là Lê Văn Tr và 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010; tiề n á n, tiề n sự : không có . Bị cáo đượ c á p dụ ng biệ n phá p ngăn chặ n cấ m đi khỏ i nơi cư trú , hiệ n tạ i ngoạ i (có mặt).

2. Họ và tên: Lê Thị T – Sinh năm 1981 tại Nghệ An.

Nơi cư trú : Thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 5/12. Con ông: Lê Quang Q; con bà : Nguyễ n Thị L; có chồng là Phan Đì nh V và 05 con, lớn nhấ t sinh năm 2001, nhỏ nhấ t sinh năm 2016; tiề n á n, tiề n sự : không có. Bị cáo đượ c á p dụ ng biệ n phá p ngăn chặ n cấ m đi khỏ i nơi cư trú , hiệ n tạ i ngoạ i (có mặ t).

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1971) – vắ ng mặ t.

Trú tại: Thôn T, xã E, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Văn T (sinh năm 1980) – có mặ t.

Trú tại: Thôn T, xã E, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Anh Đỗ Văn H (sinh năm 1981) – có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trú tại: Đường K, phườ ng N, quậ n M, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/9/2017, Phan Thị N điề u khiể n xe môtô biể n

kiể m soá t 52F6-3171 chở Lê Thị T (là chị dâu c ủa N) mang theo 02 chiế c giỏ bằ ng cướ c đi từ nhà đến xã E , huyệ n K để thu mua quả sầu riêng nhưng không mua được . Khi đế n thôn T , xã E, thấ y vườ n cây củ a bà Nguyễ n Thị B có nhiề u quả nhưng không có người trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp và rủ T tham gia thì T đồng ý . T và N giấ u xe môtô và o vườ n cà phê rồ i đi và o khu vự c vườ n trồ ng sầ u riêng há i trộ m đượ c 15 quả sầu riêng có trọng lượng 72kg. Cùng lúc này thấy có người đi ra vườn nên N và T hoả ng sợ bỏ chạ y , để lại hiện trường 15 quả sầu riêng, 02 giỏ xách và chiếc xe môtô biể n số 52F6-3171.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 63 ngày 15/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 72 (bảy mươi hai) kg sầ u riêng dona da xanh (loại quả chưa chín) có giá trị: 3.744.000đ.

Bản cáo trạng số 08/KSĐT-HS ngày 09/01/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố các bị cáo Phan Thị N và Lê Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận : Buổ i trưa ngà y 13/9/2017, các bị cáo đi vào khu vực xã E thu mua sầu riêng của các hộ dân về bán lại cho đạ i lý để kiế m tiề n chênh lệ ch. Do không mua đượ c nên N nả y sinh ý đị nh há i trộ m sầ u riêng củ a mộ t hộ dân ở bên đường và rủ T tham gia thì T đồ ng ý . Các bị cáo đã hái đượ c 15 quả sầu riêng thì phát hiện có người ra thăm vườn nên các bị cáo bỏ chạy , để lại chiếc xe môtô và số sầu riêng đã hái.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử :

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điề u 33 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.

Xử phạt Phan Thị N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Xử phạt Lê Thị T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trá ch nhiệ m dân sự : Công nhậ n cá c bị cá o đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho bị hạ i số tiề n 15.000.000đ.

Về xử lý vậ t chứ ng : Chấ p nhậ n cơ quan điề u tra đã trả lạ i cho bị hạ i 15 trái sầu riêng dona da xanh. Tịch thu tiêu hủy 02 chiế c giỏ cướ c thu giữ củ a cá c bị cá o.

Đối với chiếc xe môtô 52F6-3171 đã thu giữ , đây là tà i sả n riêng củ a anh Lê Văn T. Khi bị cá o N sử dụ ng và o việ c phạ m tộ i anh T không biế t nên đề nghị tuyên trả lạ i cho anh T nhậ n sở hữ u.

Các bị cáo không có ý kiến gì tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c

tranh tụ ng tại phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyệ n Krông Năng và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Krông Năng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Thị N và Lê Thị T tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi của các bị cáo lén lút chiếm đoạt 15 trái sầ u riêng loạ i dona da xanh có tổ ng trọ ng lượ ng 72kg, trị giá 3.744.000đ củ a bà Nguyễ n Thị B là phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.

* Tại Điều 138 BLHS năm 1999 quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. . . .

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã chiếm đoạt trái phép tài sản của người bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật và vì động cơ vụ lợi nên trưa ngà y 13/9/2017, các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 15 trái sầu riêng, trị giá 3.744.000đ củ a bà Nguyễ n Thị B. Cho nên đối với các bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, có như vậy mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]Trong vụ án này có hai bị cáo. Xét tính chất, mứ c độ phạ m tộ i củ a cá c bị cá o là giống nhau và đều bột phát, mang tí nh chấ t đồ ng phạ m giả n đơn. Tuy nhiên, bị cáo N là người khởi xướng việc chiếm đoạt tài sản và rủ bị cáo T tham gia. Cho nên á p dụ ng mứ c hình phạt đối với bị cáo N cao hơn so vớ i bị cá o T là phù hợp.

[5] Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiề n á n , tiề n sự . Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, thể hiệ n sự ăn năn hố i cả i . Các bị cáo phạm tội lần đầu , thuộ c trườ ng hợ p í t nghiêm trọ ng ; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và chưa chiếm đoạt được tài sản. Quá trình điều tra, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại và được bị hại bãi nại, xin giả m nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước. Xét thấy các bị cáo đều phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng hình phạt không phải là hình phạt tù , cho cá c bị cá o đượ c tự cả i tạ o ngoà i xã hộ i dướ i sự giá m sá t củ a chí nh quyề n đị a phương và gia đì nh cũ ng đủ tá c dụ ng cả i tạ o , giáo dục các bị cáo . Do cá c bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễ n khấ u trừ thu nhậ p cho cá c bị cá o.

[6] Về trá ch nhiệ m dân sự : Sau khi phạ m tộ i, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Nguyễ n Thị B số tiề n 15.000.000đ. Bà B không yêu cầu gì thêm và đã bãi nại cho cá c bị cá o. Đây là sự tự nguyệ n thỏ a thuậ n, không trá i phá p luậ t nên chấ p nhậ n.

[7] Về xử lý vậ t chứ ng : Chấ p nhậ n cơ quan điề u tra đã thu giữ và trả lạ i cho bà

Nguyễ n Thị B 15 trái sầu riêng dona da xanh.

[8] Đối với 02 chiế c giỏ xá ch bằ ng cướ c thu giữ củ a cá c bị cá o là phương tiệ n

dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với chiếc xe môtô biển số 52F6-3171 thu giữ củ a bị cá o N, quá trình điều tra xác định đây là tà i sả n đứ ng tên chủ sở hữ u là anh Đỗ Văn H . Tháng 8/2006, anh H bán xe cho một tiệm mua bán xe máy cũ trên địa bàn quận B , Tp. Hồ Chí Minh. Tháng 9/2006, anh Lê Văn T mua lạ i chiế c xe nà y là m phương tiệ n đi lạ i nhưng chưa làm thủ tục sang tên . Tháng 11/2006 anh T kế t hôn vớ i Phan Thị N và hai vợ chồ ng sử dụ ng chiế c xe trên là m phương tiệ n đi lạ i trong gia đì nh nhưng vẫ n chưa là m thủ tụ c sang tên hoặ c nhậ p và o khố i tà i sả n chung . Xét thấy, chiế c xe nà y là tà i sả n riêng củ a anh T có trước hôn nhân. Việ c bị cá o N sử dụ ng chiế c xe và o việ c trộ m cắ p tà i sả n , anh T không biế t nên tuyên trả lạ i chiế c xe môtô cho anh T nhậ n sử dụ ng là phù hợ p.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phan Thị N và Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điề u 31 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 BLHS.

1. Xử phạt Phan Thị N 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.

2. Xử phạt Lê Thị T 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngày cơ quan , tổ chứ c đượ c giao giá m sá t , giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Phan Thị N về cho Ủy ban nhân dân xã E , huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao bị cáo Lê Thị T về cho Ủy ban nhân dân xã E , huyệ n K giám sát , giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễ n khấ u trừ thu nhậ p cho cá c bị cá o Phan Thị N và Lê Thị T.

* Về trá ch nhiệ m dân sự : Áp dụng Điều 42 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; Điều 584, Điề u 586, Điề u 589 Bộ luậ t dân sự năm 2015.

Chấ p nhậ n cá c bị cá o Phan Thị N và Lê Thị T đã tự nguyệ n bồ i thườ ng cho bà Nguyễ n Thị B số tiề n 15.000.000đ.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Điều 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015.

- Trả cho anh Lê Văn T chiế c xe môtô biể n số 52F6 - 3171; số khung: Y-136821; số má y: C09E-6136838.

- Tịch thu tiêu hủy 02 chiế c giỏ xá ch bằ ng cướ c.

(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2018 giữ a cơ quan cả nh sát điều tra và Thi hành án dân sự huyện Krông Năng).

* Về án phí: Các bị cáo Phan Thị N và Lê Thị T , mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ