vanban.org

Bản án 06/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 05/01/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc C, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lê Đoàn Ng, Nguyễn Duy T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo Phan Ngọc C còn phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”; bị cáo Đoàn Tuấn V còn phạm tội “Tiêu thụ tài sản …

Các bị cáo Phan Ngọc C, Nguyễn Công Đ, Lê Đoàn Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Đoàn Tuấn V, Nguyễn Duy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Ngọc C và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc C, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lê Đoàn Ng, Nguyễn Duy T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo Phan Ngọc C còn phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”; bị cáo Đoàn Tuấn V còn phạm tội “Tiêu thụ tài sản …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HS-PT
Ngày: 05-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các thẩm phán: Ông Mai Tấn Hoàng và ông Trần Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa công khai, để xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/HSPT/2017 ngày 07/11/2017 đối với bị cáo Phan Ngọc C và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2017/HSST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phan Ngọc C; sinh năm 1994; tại: tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã HĐ, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Văn D, sinh năm 1966 và bà Ngô Thị S, sinh năm 1962; có vợ Hoàng Thị L, sinh năm 1999; tiền án: Ngày 14/3/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên phạt 04 năm tù về tội Hiếp dâm (Bản án số 20/2014/HSPT), chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/12/2010 bị Công an xã HĐĐ phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (nộp phạt ngày 07/9/2012); Ngày 19/4/2011 bị Công an xã HĐĐ phạt hành chính 500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích; Ngày 10/8/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HĐĐ, huyện H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 06 tháng; bắt tạm giam ngày 01/9/2016; có mặt;

2. Đoàn Tuấn V (tên gọi khác: Vũ È); sinh năm 1992; tại: tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã HĐĐ, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đoàn Kim S, sinh năm 1958 và bà Đoàn Thị Mộng L, sinh năm 1961; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/9/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng, đến ngày 04/7/2014 chấp hành xong; Ngày 03/4/2015 bị Công an huyện H phạt 750.000 đồng về hành vi đánh người khác gây thương tích (chưa chấp hành nộp phạt); nhân thân: ngày 05/10/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố T phạt 01 năm 03 tháng tù về tội cướp giật tài sản (Bản án số 114/2010/HSST), ngày 27/4/2011 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo tại ngoại; có mặt;

3. Nguyễn Công Đ (tên gọi khác: Nồ); sinh năm 1994; tại: tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn Mỹ Hòa, xã H, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1970; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14/9/2015 bị Công an xã H phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau (đã nộp phạt), Ngày 17/9/2015 bị Công an xã H xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh nhau (đã nộp phạt), nhân thân: Ngày 20/9/2016 bị Công an xã H phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt); bị cáo tại ngoại; có đơn xin xét xử vắng mặt;

4. Nguyễn Duy T, sinh năm 1997; tại: tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn Định Thành, xã HĐĐ, huyện H, Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn T, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/10/2016 bị Công an xã HĐĐ xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau (chưa nộp phạt); bị cáo tại ngoại; có mặt.

5. Lê Đoàn Ng, sinh năm 1997; tại: tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn D, xã HQN, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm 1971 và bà Đoàn Thị Y, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/02/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã HQN ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 06 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Vụ án còn có các bị cáo Lương Công T, Phan Tấn T, Phan Tấn T1, Nguyễn Kim T, Nguyễn Việt C, Nguyễn Ngọc C, Huỳnh Văn C, Châu Văn H, Lê Thanh H, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành L, Lê Văn H, Cao Văn Th, Đinh Thế C, nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2016, Phan Ngọc C, Lương Công T, Phan Tấn T, Phan Tấn T1 đã khởi xướng, rủ rê bàn bạc thống nhất với Nguyễn Kim T, Nguyễn Việt C, Nguyễn Ngọc C, Huỳnh Văn C, Châu Văn H, Lê Thanh H, Nguyễn Công Đ, Đoàn Tuấn V chuẩn bị phương tiện xe mô tô, dụng cụ phá khóa xe mô xô cùng nhau đi trộm cắp tài sản tại các huyện H, Đông Hòa, Sơn Hòa, thị xã Sông Cầu, thành phố T, tỉnh Phú Yên; huyện Krông Pa, thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai rồi đem cất giấu tại nhà Nguyễn Đức T, qua trung gian Nguyễn Văn T, Lê Đoàn Ng đem bán cho Nguyễn Thành L, Lê Văn H, Cao Văn Th, Nguyễn Duy T, Đinh Thế C, Đoàn Tuấn V, đem cầm cố cho một số người khác để lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

- Vụ thứ 1: Tối ngày 24/4/2016, Phan Ngọc C, Lương Công T, Nguyễn Ngọc C và Nguyễn Kim T rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô. Châu, Tới, Cường, Thành điều khiển hai xe mô tô Sirius của Châu và Cường đi đến huyện Sơn Hòa phát hiện một chiếc xe mô tô hiệu Exciter 150CC biển số 78L1 – 088.42 của anh Lê Anh Tú, sinh năm 1994, trú thôn Tân Phú, xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa dựng trước nhà không có người trông coi. Tới, Thành đứng ngoài cảnh giới; Châu, Cường vào dắt xe; Tới, Châu dùng vam phá khóa xe, chạy về thôn Định Thành, xã HĐĐ, huyện H. Châu, Tới và Lê Đoàn Ng đem xe đến huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Tới bán xe cho 01 người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 8.000.000 đồng, trừ chi phí đi lại còn lại 5.000.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân.

Ngày 06/5/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1-088.42 có giá trị còn lại 45.630.000 đồng.

- Vụ thứ 2: Khoảng 19 giờ 29/4/2016, Phan Ngọc C cùng Phạm Ngọc Lợi đi xe Future của Lợi, Lê Đoàn Ng đi cùng bạn gái tên Linh (không xác định được thân nhân lai lịch) lên Quảng trường huyện H để uống nước mía. Khi đi đến ngã tư Gò Tin, thuộc Khu phố Định Thắng 2, thị trấn H, huyện H thì Châu bảo Lợi dừng xe để đi công việc, còn Ngọc chở bạn gái lên Quảng trường. Châu đi vào một đường luồn phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius biển số 78N2 – 9422 của anh Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1985, trú Khu phố Định Thắng 2, thị trấn H, huyện H đang dựng ở đường luồn bên hông nhà, không có người trông coi. Châu dùng vam bẻ khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy đến Quảng trường huyện H, Lợi điều khiển xe chạy theo sau. Tại đây, Châu, Lợi gặp Lê Đoàn Ng và Linh. Châu được Ngọc dẫn đem xe đến bán cho Cao Văn Th với giá 2.500.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân.

Sau khi mua xe 78N2-9422 Cao Văn Th đưa cho Trương Minh Trung, sinh năm 1992, trú thôn Ngọc Lãng, xã Bình Ngọc, thành phố T thế chấp cho bà Trương Thị Mùi, sinh năm 1979, trú cùng thôn lấy tiền chênh lệch tiêu xài cá nhân. Vì Thuần không lấy xe nên bà Mùi nhờ Trương Minh Bằng, sinh năm 1985, trú cùng thôn bán xe cho Lê Văn Thơ, sinh năm 1982, trú khu phố 1, phường Phú Lâm, thành phố T với giá 10.000.000 đồng. Sau đó ông Thơ bán xe cho cha con ông Trần Văn Hòa, sinh năm 1964 và Trần Văn Công, sinh năm 1994, cùng trú tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng, huyện Đông Hòa với giá 10.800.000 đồng. Ông Hòa đem xe đến Công an huyện Tây Hòa làm thủ tục sang tên thì bị phát hiện tạm giữ xe.

Ngày 06/5/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78N2-9422 có giá trị còn lại 8.400.000 đồng.

- Vụ thứ 3: Khoảng 21 giờ ngày 30/4/2016 Phan Ngọc C, Lương Công T thống nhất đi trộm cắp xe mô tô. Tới điều khiển xe mô tô 78V1 – 8540 của gia đình chở Châu đến xã Hòa Định Tây, huyện H, phát hiện xe mô tô hiệu Exciter 135CC, biển số 78E1 – 115.89 của Nguyễn Hồng Ẩn, sinh năm 1989, trú thôn Phú Sen Đông, xã Hòa Định Tây, huyện H dựng trước quán cà phê của ông Nho ở cùng thôn, không có người trông coi. Châu đến dùng vam phá khóa xe rồi điều khiển về nhà Tới cất giấu. Tới điều khiển chở Nguyễn Ngọc C vào Đồng Nai bán cho 01 người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) được 4.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Ngày 25/5/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-115.89 có giá trị sử dụng còn lại là 24.900.000 đồng.

- Vụ thứ 4: Khoảng 20 giờ ngày 02/5/2016, Phan Ngọc C, Lương Công T rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô, Châu và Tới đi đến huyện Sơn Hòa phát hiện xe mô tô hiệu Sirius biển số 78L1 – 090.76 của anh Sô Y Ngâm, sinh năm 1974, trú thôn Độp Lập B, xã Eacharang, huyện Sơn Hòa không có người trông co. Tới, Châu vào bẻ khóa xe, nổ máy chạy về xã HĐĐ. Tới, Châu đem bán cho Lê Văn H với giá 2.500.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân. Huân thay bằng biển số 78G1- 003.77 để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 03/9/2016, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã thu giữ chiếc xe trên do Lê Văn H giao nộp.

Ngày 20/7/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1-090.76 có giá trị sử dụng còn lại 15.925.000 đồng.

- Vụ thứ 5: Khoảng 20 giờ, ngày 14/5/2016, Phan Tấn T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius của Tài chở Phan Ngọc C đến khu vực xã Hòa Định Tây, huyện H phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius biển số 78V1 – 2012 của anh Phạm Ngọc Trị, sinh năm 1970, trú thôn Cẩm Thạch, xã Hòa Định Tây, huyện H đang dựng trước nhà, không có người trông coi. Tài đứng ngoài cảnh giới, Châu đi vào dùng vam phá khóa xe chạy về huyện Đông Hòa cất giấu. Tài đem xe bán cho Phạm Văn Chi, sinh năm 1985, trú 15/7 Nguyễn Tất Thành, phường 2, thành phố T với giá 2.500.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân. Sau khi mua xe, Chi nhờ Trương Minh Trung đem cầm cố cho Trương Minh Bằng với giá 7.000.000 đồng. Trương Minh Bằng thấy Phạm Văn Chi không đến lấy xe nên cầm cố chiếc xe cho Nguyễn Thị Kim Chi, sinh năm 1979, trú thôn Đông Phước, xã Hòa An, huyện H. Sau đó, Bằng chuộc xe ra rồi bán cho Lê Văn Thơ, sinh năm 1982, trú Khu phố 1, phường Phú Lâm, thành phố T với giá 11.000.000 đồng. Thơ bán xe cho Phan Trung Hiếu, sinh năm 1975, trú thôn Mậu Lâm Nam, xã Hòa Quang Nam, huyện H với giá 11.900.000 đồng, anh Hiếu sử dụng làm phương tiện đi lại, đến ngày 18/11/2016, ông Hiếu giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên.

Ngày 26/5/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78V1-2012 có giá trị sử dụng còn lại là 6.600.000 đồng.

- Vụ thứ 6: Chiều ngày 19/5/2016, Lê Thanh H điều khiển xe mô tô của gia đình chở Lương Công T đến nhà Hoàng Thị Lệ, sinh 1999, trú ở Thôn 4, xã Bò Tó, huyện Iapa, tỉnh Gia Lai gặp Châu để chơi. Đến khoảng 21h00 cùng ngày, Châu, Tới và Hảo bàn nhau đi trộm cắp tài sản. Hảo điều khiển xe chở Châu, Tới đi hướng từ Gia Lai về huyện H, khi đi đến xã Chư Gu, huyện KrôngPa, tỉnh Gia Lai phát hiện xe Sirius biển số 81N1 – 033.22 của anh Rô Phơ, sinh 1979, trú Tập đoàn 8, xã Chư Gu, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai đang dựng trước nhà, không có người trông coi, Hảo đứng ngoài đường, còn Châu và Tới vào bên trong bẻ khóa xe chạy về hướng huyện H. Sau đó, bán cho một người đàn ông tên Sơn ở thành phố T (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 2.500.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân. Sau đó, ông Sơn nghi ngờ là xe trộm cắp mà có nên trả xe lại cho Châu, Châu lấy xe sử dụng cùng Tài đi trộm cắp tài sản vào ngày 21/6/2016 thì bị Công an huyện Sơn Hòa tạm giữ.

Ngày 09/11/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 81N1-033.22 có giá trị sử dụng còn lại là 13.000.000 đồng.

- Vụ thứ 7: Sau khi trộm cắp xe 81N1-033.22, Tới, Châu, Hảo tiếp tục đi đến huyện Sơn Hòa thì phát hiện xe Sirius biển số 78L1 – 054.16 của Nay Manh, sinh năm 1983, trú Buôn Khăm, xã KrôngPa, huyện Sơn Hòa đang dựng trước nhà, không có người trông coi. Tới và Hảo đứng ngoài cảnh giới, Châu vào bẻ khóa chiếc xe nổ máy chạy về xã HĐĐ. Tới bán cho một người không xác định được, không nhớ số tiền, chia nhau tiêu xài cá nhân.

Ngày 13/9/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1-054.16 có giá trị sử dụng còn lại là 9.564.200 đồng.

- Vụ thứ 8: Tối ngày 21/5/2016, Phan Ngọc C, Lương Công T, Phan Tấn T, Nguyễn Công Đ bàn nhau đi trộm cắp xe mô tô. Châu, Tới, Tài, Đăng đi hai xe mô tô Sirius của Châu và Đăng đến huyện Sông Hinh phát hiện xe mô tô Sirius biển số 78M1 – 055.93 của Lê Quang Hảo, sinh năm 1989, trú Buôn Thung, xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh đang dựng trước nhà không có người trông coi. Tài và Đăng đứng ngoài cảnh giới, còn Châu và Tới vào dùng vam phá khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy theo hướng qua huyện Sơn Hòa. Tới bán xe cho ai không xác định được, không nhớ số tiền, chia nhau tiêu xài cá nhân.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78M1-055.93 có giá trị sử dụng còn lại là 16.644.000 đồng.

- Vụ thứ 9: Sau khi trộm cắp xe 78M1-055.93 Tài và Tới đi về trước, còn Châu, Đăng tiếp tục tìm xe mô tô để trộm cắp. Lúc này Tới biết Châu và Đăng ở lại để tiếp tục đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa phát hiện chiếc xe mô tô Sirius biển số 78L1 – 058.93 của Sô Y Vũ, sinh năm 1982, trú tại thôn Tân Lập, xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa đang dựng trước nhà, không có người trông coi. Châu dùng vam phá khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy về xã HĐĐ, huyện H đưa xe cho Tới gửi cho Nguyễn Đức T cất giữ tại nhà của Tuyên. Thông qua Tới, Tuyên bán cho Nguyễn Thiên Đẳng, sinh năm 1996, trú Khu phố Định Thắng, thị trấn H, huyện H với giá 600.000 đồng, Tuyên đưa cho Tới chia nhau tiêu xài cá nhân. Sau đó Đẳng bán cho Lê Quốc Khánh, sinh ngày 01/7/2000, trú khu phố Định Thắng 1, thị trấn H, huyện H và Đinh Thế C với giá 1.000.000 đồng. Khánh, Cảnh bán xe lại cho Nguyễn Ngọc Sâm, trú thôn Thế Hiên, xã An Nghiệp, huyện Tuy An với giá 1.400.000 đồng. Nguyễn Ngọc Trung (con ông Sâm), sinh năm 2000 sử dụng đến ngày 21/6/2016 thì bị lực lượng Công an huyện Tuy An tuần tra tạm giữ.

Ngày 26/12/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1 – 058.93 giá trị sử dụng còn lại 12.410.000 đồng.

- Vụ thứ 10: Khoảng 23 giờ ngày 26/5/2016 Phạn Tấn Tài điều khiển xe mô tô Sirius, biển số 81N1 – 033.22 chở Châu đi huyện Sơn Hòa. Khi đi đến chân đèo Trà Kê, thuộc thôn Ma Gú, xã Sơn Phước, huyện Sơn Hòa thì thấy xe mô tô Sirius, biển số 78L1 – 105.50 của anh Hoàng Minh Toàn, sinh năm 1987, trú tại thôn Ma Gú, xã Sơn Phước, huyện Sơn Hòa đang dựng bên lề đường, chìa khóa cắm trên xe, không có người trông coi. Châu liền nói với Tài “để tao lấy chiếc xe này”, Tài đồng ý. Châu đến khởi động xe chạy về hướng xã Sơn Hội, Tài điều khiển xe mô tô biển số 81N1 – 033.22 chạy theo sau, do lạ đường nên khi đi đến địa bàn xã Sơn Hội thì bị phát hiện và đưa về trụ sở công an xã Sơn Hội để làm việc. Châu thay biển số 78F1 – 095.24 (là biển số xe của anh Lương Tân Ninh, sinh năm 1983, trú tại thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa) rồi điều khiển xe lên tỉnh Gia Lai thì bị công an huyện Công Cho, tỉnh Gia Lai bắt giữ xe.

Ngày 31/5/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1-105.50 có giá trị sử dụng còn lại 22.282.400 đồng.

- Vụ thứ 11: Chiều tối ngày 03/6/2016, Phan Ngọc C, Phan Tấn T đi trộm cắp xe mô tô. Khi đến phường Phú Thạnh, thành phố T phát hiện xe Sirius biển số 78E1 – 227.26 của anh Nguyễn Hùng Vương, sinh năm 1986, trú tại thôn Ngọc Sơn Đông, xã Hòa Quang Bắc, huyện H đang dựng trước cửa quán không có người trông coi nên cả hai thống nhất lấy trộm. Tài đứng cảnh giới, Châu phá khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy về xã HĐĐ. Sau đó Châu điện thoại bán xe cho Lê Văn H với giá 2.500.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Huân bán xe cho một người bạn ở khu FBS, phường 9, thành phố T (không xác định được nhân thân, lai lịch) lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-227.26 có giá trị sử dụng còn lại 18.800.000 đồng.

- Vụ thứ 12: Trưa ngày 02/7/2016, Phan Ngọc C cùng Lê Xuân Hồng bàn nhau đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài, cả hai đi bằng xe Sirius của Châu đến thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai phát hiện xe Exciter biển số 81M1 – 014.98 của anh Rah Lan Jim, sinh năm 1987, trú tại buôn Phu Ma Mương, xã Ia Rtô, xã Ia Sao, thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai đang dựng tại bãi đất trống nhà ông Ma Lao, thuộc Buôn Hoang 1, xã Ia Sao, thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai không có người trông coi. Hồng đứng cảnh giới, Châu đi đến phá khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy về xã HĐĐ. Châu điện thoại cho Nguyễn Duy T bán xe với giá 6.000.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Toán bán xe cho Phạm Hiển với giá 13.000.000 đồng. Hiển làm phương tiện đi lại. Ngày 09/9/2016, Phạm Hiển giao nộp xe cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên.

Ngày 05/7/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 81M-014.98 có giá trị sử dụng còn lại 27.540.000 đồng.

- Vụ thứ 13: Sau khi bán xe cho Toán, Phan Ngọc C cùng Lê Xuân Hồng đi đến chợ trung tâm thị xã Sông Cầu phát hiện xe Wave α biển số 78D1 – 114.04 của chị Ông Thị Châu Ngân, sinh năm 1978, trú tại 250 Phạm Văn Đồng, khu phố Long Hải Nam, Phường Xuân Phú, thị xã Sông Cầu đang dựng trước cửa nhà không người trông coi nên cả hai thống nhất lấy trộm. Hồng đứng cảnh giới, Châu đi đến phá khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy về xã HĐĐ. Lê Xuân Hồng đem xe vào thành phố Hồ Chí Minh bán cho một người không xác định được, với giá 6.000.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân.

Ngày 13/9/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78D1-114.04 có giá trị sử dụng còn lại 12.000.000 đồng.

- Vụ thứ 14: Tối ngày 02/7/2016, Phan Ngọc C cùng Phan Tấn T bàn bạc đi trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài, cả hai đi bằng xe Sirius của Tài đến huyện Đông Hòa phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 78G1 – 003.77 của ông Nguyễn Tình, sinh năm 1967, trú tại khu phố Phú Hiệp 2, thị trấn Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa đang dựng trước cửa nhà ông Phan Văn Yên, sinh năm 1964, trú tại khu phố Phú Hiệp 1, thị trấn Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa, không người trông coi nên Tài đứng ngoài cảnh giới, Châu đến dùng vam phá khóa rồi điều khiển xe chạy về xã HĐĐ, huyện H. Sau đó Châu bán xe này cho Huân với giá trị 2.000.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Lê Văn H giữ lại biển số xe này gắn vào xe của Sô Y Ngâm để sử dụng, còn xe Huân bán cho ai không xác định được. Ngày 03/9/2016, Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên thu giữ chiếc xe của Sô Y Ngâm cùng biển số xe trên từ Lê Văn H.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78G1-003.77 có giá trị sử dụng còn lại 7.200.000 đồng.

- Vụ thứ 15: Trưa ngày 10/7/2016, Phan Ngọc C cùng với Phan Tấn T đi bằng xe Sirius của Tài đến khu vực huyện Đông Hòa phát hiện xe mô tô hiệu Sirius biển số 78E1 – 038.47 của chị Lê Thị Diễm Trang, sinh năm 1989, trú thôn Phú Lộc, xã H, huyện H đang dựng trước cửa nhà dân không có người trông coi nên cả hai thống nhất lấy trộm. Tài đứng ngoài cảnh giới, Châu phá khóa xe dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy xe về xã HĐĐ, huyện H. Sau đó Châu bán cho ai không xác định được.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-038.47 có giá trị sử dụng còn lại 9.805.000 đồng.

- Vụ thứ 16: Sau khi bán xe cho Huân, Châu và Tài đi trên đường kênh mương N4 thuộc thôn Phú Lộc, xã H, huyện H phát hiện trước quán tạp hóa của bà Trần Thị Bích, sinh năm 1950, thôn Phú Lộc, xã H, huyện H có xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 78E1 – 114.85 của anh Nguyễn Ngọc Dũng, sinh năm 1988, trú cùng thôn nên Châu dùng vam bẻ khóa xe dắt ra đường nổ máy chạy về hướng xã HĐĐ, vì bị lộ nên Châu đem xe trả lại cho Dũng.

Ngày 15/7/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-114.85 có giá trị sử dụng còn lại 24.600.000 đồng.

- Vụ thứ 17: Tối ngày 19/7/2016, Phan Ngọc C, Phan Tấn T và Phan Tấn T1 đi xe mô tô của Tú đến Chợ Xéo, xã Bình ngọc, thành phố T phát hiện xe mô tô hiệu Sirius biển số 78F1 – 279.75 của anh Nguyễn Đình Phương, sinh 1984, trú thôn Ngọc Phước 1, xã Bình ngọc đang dựng trước cửa nhà không người trông coi nên cả ba thống nhất lấy trộm. Tài đứng cảnh giới, Châu và Tú vào phá khóa xe rồi chạy về xã HĐĐ. Châu thỏa thuận với Tài, Tú mua lại xe này với giá 2.000.000 đồng. Châu sử dụng một thời gian rồi bán xe cho Nguyễn Duy T với giá 4.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Sau đó Nguyễn Duy T bán xe cho anh Phạm Hiển, sinh 1990, trú thôn Tân Lập, xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh với giá 7.000.000 đồng. Hiển sử dụng xe làm phương tiện đi lại. Sau đó Hiển bán xe cho một người tên Tý Em ở thị trấn H, huyện H (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 8.000.000 đồng.

Ngày 27/7/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78F1-279.75 có giá trị sử dụng còn lại 17.000.000 đồng.

- Vụ thứ 18: Sau khi trộm xe mô tô tại chợ Xéo, Phan Tấn T ngồi uống nước tại Công viên Diên Hồng, còn Phan Ngọc C và Phan Tấn T1 tiếp tục đi trộm xe. Châu, Tú đến phường Phú Lâm, thành phố T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 78C1 – 336.87 của anh Trần Văn Cơ, sinh năm 1998, trú tại khu phố 5, phường Phú Lâm đang dựng trước tiệm Internet Ngọc Uyên, cả hai lấy trộm chiếc xe này. Châu, Tài, Tú đem xe đến Gò Miếu, xã HĐĐ, huyện H bán cho Lê Văn H với giá 2.000.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Lê Văn H bán chiếc xe này cho một thanh niên tên Bự ở khu FBS, phường 9, thành phố T (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 3.000.000 đồng.

Ngày 11/11/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78C1-336.87 có giá trị sử dụng còn lại 19.200.000 đồng.

- Vụ thứ 19: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 21/7/2016, Phan Ngọc C và Lê Xuân Hồng bàn nhau đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài. Châu điều khiển xe máy Sirius của Châu chở Hồng đến khu vực xã Hòa Định Tây, huyện H phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Sirius biển số 78E1 – 090.23 của anh Lê Tấn Phong, sinh năm 1990, trú tại thôn Phú Sen Đông, xã Hòa Định Tây đang dựng trước nhà không người trông coi. Hồng đứng ngoài cảnh giới, Châu đi vào chỗ chiếc xe dùng vam phá khóa xe dắt ra ngoài rồi chạy về xã HĐĐ, huyện H bán xe cho Nguyễn Duy T với giá 1.700.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Sau đó Toán bán cho Đoàn Tuấn V với giá 2.500.000 đồng, Vũ bán cho một người tên Hoan, ở phường Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (không xác định được nhân thân lai lịch) với giá 2.800.000 đồng.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-090.23 có giá trị sử dụng còn lại 13.440.000 đồng.

- Vụ thứ 20: Trưa ngày 23/7/2016, Phan Ngọc C và Lê Xuân Hồng bàn nhau đi trộm xe máy, cả hai đi bằng xe Sirius của Châu đến huyện Sơn Hòa, phát hiện xe mô tô hiệu Sirius biển số 78L1 – 015.97 của chị Nguyễn Thị Yến Nga, sinh năm 1977, trú tại thôn Tân An, xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa đang dựng trước đường thuộc thôn Tân An, xã Suối bạc, huyện Sơn Hòa để làm rẫy không có người trông coi. Hồng đứng cảnh giới, Châu đến phá khóa xe chạy về xã HĐĐ. Sau đó, Châu lấy biển số 78G1 – 027.73 (biển số xe của anh Nguyễn Thắng, sinh năm 1986, trú tại khu phố 2, thị trấn Hòa Vinh, huyện Đông Hòa bị mất ngày 18/7/2016) gắn vào xe để sử dụng làm phương tiện đi lại, ngày 01/9/2016 bị Công an xã Hòa Hội tạm giữ.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1-015.97 có giá trị sử dụng còn lại 10.192.000 đồng.

- Vụ thứ 21: Chiều ngày 23/7/2016, Phan Ngọc C điều khiển xe mô tô Sirius của Châu chở Lê Xuân Hồng đến xã H phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 78E1 – 241.45 của chị Trần Thị Hà, sinh năm 1965, trú thôn Phú Lộc, xã H, huyện H đang dựng trước nhà không có người trông coi. Hồng đứng ngoài cảnh giới, Châu dùng vam phá khóa chạy về thôn Ngọc Lãng, xã Bình Ngọc, thành phố T. Châu gắn biển số xe 78L1 – 015.97 (biển số xe của anh Đoàn Lưu Giang) vào, rồi bán cho Phạm Văn Chi với giá 3.000.000 đồng tại nhà Cao Văn Th. Ngày 15/9/2016, Phạm Văn Chi giao nộp xe mô tô nói trên cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên.

Ngày 26/12/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-241.45 có giá trị sử dụng còn lại 17.100.000 đồng.

- Vụ thứ 22: Khoảng 19 giờ ngày 10/8/2016 Phan Ngọc C và Châu Văn H bàn nhau đi trộm cắp xe mô tô, cả hai đi xe Sirius của Châu đến huyện KrôngPa, tỉnh Gia Lai phát hiện xe mô tô hiệu Exciter, biển số 81N1 – 080.69 của anh Trịnh Thái, sinh năm 1989, trú tại Tổ dân phố 9, thị trấn Phú Túc, huyện KrôngPa, tỉnh Gia Lai đang dựng trước cửa tiệm điện thoại ở Tổ dân phố 4, thị trấn Phú Túc, huyện KrôngPa, tỉnh Gia Lai không có người trông coi. Hùng đứng ngoài cảnh giới, Châu phá khóa dắt xe ra ngoài, đưa cho Hùng chạy về xã HĐĐ. Sau đó, Châu Văn H điện thoại cho Đoàn Tuấn V bán xe với giá 5.500.000đ, chia nhau tiêu xài cá nhân. Đoàn Tuấn V điều khiển xe đến đường Trần Hưng Đạo, phường 6, thành phố T thì bị Cảnh sát giao thông Công an thành phố T tạm giữ xe.

Ngày 01/9/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 81N1-080.69 có giá trị sử dụng còn lại 30.000.000 đồng.

- Vụ thứ 23: Tối ngày 22/8/2016, Phan Ngọc C, Lương Công T, Nguyễn Ngọc C, Nguyễn Việt C và Huỳnh Văn C bàn nhau đi trộm cắp xe mô tô, cả nhóm đi hai xe mô tô hiệu Sirius của Châu và xe Sirius của Việt Cường đến huyện Sơn Hòa phát hiện xe mô tô hiệu Sirius, biển số 78L1 – 094.13 của anh Lê Mô Y Tét, sinh năm 1991, trú tại thôn Độc Lập C, xã Eacharang, huyện Sơn Hòa đang dựng trước nhà không có người trông coi. Việt Cường, Văn Cường và Tới đứng cảnh giới, Châu và Ngọc Cường đi vào bẻ khóa xe dắt ra ngoài đường đưa cho Nguyễn Ngọc C chạy về xã HĐĐ. Sau đó cả nhóm gọi điện thoại bán cho Lê Văn Pháp, sinh năm 1993, trú tại thôn Định Thành, xã HĐĐ, huyện H với giá 2.000.000 đồng, chia nhau tiêu xài. Ngày 09/9/2016, Lê Văn Pháp giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên.

Ngày 14/9/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78L1-094.13 có giá trị sử dụng còn lại 23.625.000 đồng.

- Vụ thứ 24: Sau khi trộm xe mô tô biển số 78L1 – 094.13 của anh Lê Mô Y Tét, Nguyễn Ngọc C điều khiển xe mô tô trộm cắp được cùng Nguyễn Việt C điều khiển xe Sirius của mình đi về xã HĐĐ, còn Phan Ngọc C, Lương Công T và Huỳnh Văn C đi đến xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa phát hiện xe mô tô hiệu Sirius biển số 78N3 – 2173 của anh Y Bông, sinh năm 1983, trú tại thôn Suối Bạc, xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa đang dựng dưới nhà sàn không có người trông coi. Văn Cường đứng cảnh giới, còn Châu và Tới đến bẻ khóa dắt ra ngoài đưa cho Huỳnh Văn C điều khiển về xã HĐĐ. Tới đem chiếc xe này cầm cố cho Đặng Quang Đại, sinh năm 1985, trú tại thôn Đại Bình, xã Hòa Quang Nam, huyện H với giá 2.500.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Ngày 01/9/2016, Đặng Quang Đại giao nộp xe mô tô 78N3 – 2173 cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên.

Ngày 27/8/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78N3-2173 có giá trị sử dụng còn lại 13.078.800 đồng.

- Vụ thứ 25: Trưa ngày 24/8/2016, Phan Tấn T và Phan Tấn T1 bàn nhau đi trộm cắp xe mô tô. Tài và Tú đi xe mô tô Sirius của Tú đến xã Bình Kiến, thành phố T phát hiện ngay kho hàng của Trung tâm Điện Máy Xanh thuộc thôn Liên Trì 1, xã Bình Kiến, thành phố T xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 78C1 – 102.17 của anh Lê Phúc Toàn, sinh năm 1989, trú tại khu phố 3, phường Phú Thạnh, thành phố T đang dựng trước cửa hàng không người trông coi. Tú đến dùng vam phá khóa xe dắt ra ngoài đưa cho Tài chạy về huyện Đông Hòa. Sau đó, thông qua Nguyễn Văn T, Tài bán xe cho Nguyễn Thành L với giá 2.500.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Luân đã tháo các bộ phận nhựa bên ngoài và 02 bánh của xe này lắp vào xe của Luân để sử dụng. Ngày 03/9/2016, Nguyễn Thành L giao nộp xe mô tô nói trên cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Phú Yên.

Ngày 13/9/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78C1-102.17 có giá trị sử dụng còn lại 12.000.000 đồng.

- Vụ thứ 26: Tối ngày 26/8/2016, Phan Ngọc C cùng Lương Công T, Nguyễn Ngọc C, Đoàn Tuấn V bàn nhau đi trộm cắp xe máy. Châu, Tới, Cường và Vũ đi hai xe mô tô của Châu và Cường đến khu vực huyện Sơn Hòa, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 78M1 – 015.09 của anh Kso Phong, sinh năm 1990, trú tại Buôn Trai, xã Chư Ngọc, huyện KrôngPa, Gia Lai đang dựng trước nhà chị Kso Hờ Blý thuộc Buôn Thu, xã Krông Pa, huyện Sơn Hòa không có người trông coi. Châu bảo Vũ, Cường đi lên phía trên đứng cảnh giới, còn Châu và Tới dùng vam phá khóa xe dắt ra ngoài, Tới điều khiển xe chạy trước, Vũ, Cường, Châu điều khiển xe chạy theo sau, tất cả chạy về thôn Định Thành, xã HĐĐ, huyện H. Sau đó, Đoàn Tuấn V bán xe (không xác định được người mua) được 6.000.000đ, chia nhau tiêu xài cá nhân.

Ngày 11/11/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78M1-015.09 có giá trị sử dụng còn lại 30.800.000 đồng.

- Vụ thứ 27: Tối ngày 27/8/2016, Phan Ngọc C đến huyện Sơn Hòa, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 78E1 – 169.06 của anh Phan Viết Hận, sinh năm 1985, trú tại thôn Ngân Điền, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa đang dựng trước nhà không người trông coi. Châu dùng vam phá khóa lấy xe chạy về xã HĐĐ, bán xe (không xác định được người mua) được 7.000.000đ, tiêu xài cá nhân.

Ngày 24/10/2016 Hội đồng định giá tài sản kết luận xe mô tô 78E1-169.06 có giá trị sử dụng còn lại 28.080.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Phan Ngọc C bị tạm giam tại phòng 4 khu K2 của Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 12 ngày 01/9/2016 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên. Đến khoảng 7 giờ 45 phút ngày 15/10/2016 cán bộ quản giáo mở cửa buồng giam để chia nước uống cho Châu và mở cửa trong, đóng cửa ngoài buồng giam để Châu phơi nắng. Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày Châu cởi áo, chui qua lam gió của buồng giam, trèo tường bỏ trốn ra khỏi Trại tạm giam. Khoảng 10 giờ cùng ngày cán bộ quản giáo phát hiện, truy tìm. Đến khoảng 7 giờ ngày 16/10/2016 Châu đi xe ô tô khách lên Gia Lai để trốn thì bị lực lượng Công an bắt giữ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2017/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện H, đã tuyên xử:

- Bị cáo Phan Ngọc C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138, khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 386 BLHS năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 46, điểm g, n khoản 1 Điều 48, Điều 50 BLHS năm 1999; phạt Phan Ngọc C - 13 (mười ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 (một) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 14 (mười bốn) năm tù.

- Bị cáo Đoàn Tuấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng khoản 1 Điều 138, khoản 1 Điều 250, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 50 BLHS; phạt Đoàn Tuấn V – 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 04 (bốn) năm tù.

- Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, p, h khoản 1, 2 Điều 46 BLHS; phạt Nguyễn Công Đ 01 (một) năm tù.

- Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng khoản 1 Điều 250, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS; phạt Nguyễn Duy T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

- Bị cáo Lê Đoàn Ng phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng khoản 1 Điều 250, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS; phạt Lê Đoàn Ng 01 (một) năm 03(ba) tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần hình phạt đối với các bị cáo Lương Công T, Phan Tấn T, Phan Tấn T1, Nguyễn Kim T, Nguyễn Việt C, Nguyễn Ngọc C, Huỳnh Văn C, Châu Văn H, Lê Thanh H, Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thành L, Lê Văn H, Cao Văn Th, Đinh Thế C, tuyên phần bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/10/2017 bị cáo Lê Đoàn Ng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Ngày 06/10/2017 bị cáo Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Duy T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 09/10/2017 bị cáo Phan Ngọc C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo - giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm tại bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2017/HSST ngày 26/9/2017 đối với bị cáo Phan Ngọc C và đồng phạm; ngày 04/10/2017 bị cáo Lê Đoàn Ng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; ngày 06 và ngày 09/10/2017 các bị cáo Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Duy T và Phan Ngọc C cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Việc kháng cáo của các bị cáo đều trong thời hạn luật định.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Ngọc C, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Duy T, Lê Đoàn Ng tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các đồng phạm, những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu là chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 04 đến tháng 08 năm 2016, Phan Ngọc C, Lương Công T, Phan Tấn T1, Châu Văn H, Phan Tấn T, Nguyễn Ngọc C, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Kim T, Huỳnh Văn C, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Việt C, Lê Thanh H đã thực hiện 27 vụ trộm cắp trên địa bàn các huyện H, Đông Hòa, Sơn Hòa, thị xã Sông Cầu, thành phố T, tỉnh Phú Yên; huyện Krông Pa, thị xã AyunPa, tỉnh Gia Lai, chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 489.816.400 đồng. Trong đó, Phan Ngọc C thực hiện 26 vụ trộm cắp chiếm đoạt 26 xe mô tô, có tổng giá trị 447.816.400 đồng; Nguyễn Công Đ tham gia 02 vụ trộm cắp cùng các đồng phạm chiếm đoạt 02 xe mô tô, có tổng giá trị 29.054.000 đồng; Đoàn Tuấn V tham gia 01 vụ trộm cắp cùng các đồng phạm chiếm đoạt 01 xe mô tô, có giá trị 30.800.000 đồng. Trong thời gian bị tạm giam để điều tra, Phan Ngọc C đã trốn khỏi nơi giam và bị bắt lại theo lệnh truy nã. Ngoài ra, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Duy T, Lê Đoàn Ng không hứa hẹn trước, nhưng biết rõ tài sản do Phan Ngọc C cùng các đồng phạm trộm cắp mà có, nhưng Vũ vẫn 02 lần tiêu thụ 02 xe mô tô có giá trị 43.440.000 đồng; Toán 03 lần tiêu thụ 03 xe mô tô trị giá 57.980.000 đồng, bị cáo Ngọc tiêu thụ 02 xe mô tô trị giá 54.030.000 đồng. Nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Phan Ngọc C về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam” theo điểm a khoản 3 Điều 138 và khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999; áp dụng nguyên tắc có lợi theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý Phan Ngọc C về tội “Trốn khỏi nơi giam”; truy tố, xét xử bị cáo Đoàn Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 138 và khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999; truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Công Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Duy T, Lê Đoàn Ng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo Phan Ngọc C, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác trái pháp luật; hành vi của các bị cáo Đoàn Tuấn V, Nguyễn Duy T, Lê Đoàn Ng đã xâm phạm đến trật tự quản lí nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có, tạo điều kiện, khuyến khích, tiếp tay để người khác phạm tội, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương; bị cáo Phan Ngọc C còn có hành vi xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, nên khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xét nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phân hóa vai trò phạm tội để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo là thỏa đáng. Do đó, bị cáo Lê Đoàn Ng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; các bị cáo Phan Ngọc C, Nguyễn Công Đ đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở, nên không chấp nhận. Đối với bị cáo Đoàn Tuấn V quá trình điều tra tại cấp sơ thẩm, cũng như tại phiên tòa phúc thẩm chỉ chứng minh được, Vũ tham gia cùng Phan Ngọc C, Lương Công T, Nguyễn Ngọc C thực hiện 01 vụ trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 78M1 – 015.09 của anh Kso Phong có giá trị 30.800.000 đồng với vai trò là người cảnh giới và 02 lần tiêu thụ 02 xe mô tô có giá trị 43.440.000 đồng. Nhưng án sơ thẩm phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có phần nghiêm khắc. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã trực tiếp bồi thường thiệt hại phần của bị cáo như bản án sơ thẩm đã tuyên cho người bị hại Kso Phong số tiền 7.700.000 đồng, được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Duy T tính chất, mức độ phạm tội như bị cáo Lê Đoàn Ng; nhưng tính đến thời điểm phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh đã nộp tiền phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, là hành vi vi phạm sau khi phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có đơn được Ủy ban nhân dân xã HĐĐ, huyện H xác nhận bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn do bố mẹ đã ly hôn, đến nay bố đã chết, mẹ đi lấy chồng khác, bị cáo trực tiếp nuôi ông bà nội gần 80 tuổi. Các bị cáo Vũ, Toán đều có tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng cáo giảm cho bị cáo Vũ một phần hình phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; giảm cho bị cáo Toán một phần hình phạt về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo;

Các bị cáo Phan Ngọc C, Nguyễn Công Đ, Lê Đoàn Ng kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Đoàn Tuấn V, Nguyễn Duy T kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Ngọc C, Đoàn Tuấn V, Nguyễn Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lê Đoàn Ng, Nguyễn Duy T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị cáo Phan Ngọc C còn phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”; bị cáo Đoàn Tuấn V còn phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo - giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Phan Ngọc C, Nguyễn Công Đ, Lê Đoàn Ng.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138, khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h, o khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Bị cáo Phan Ngọc C – 13 (mười ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 (một) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Phan Ngọc C phải chấp hành hình phạt chung là: 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam theo lệnh truy nã là ngày 16/10/2016, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam trước đó từ ngày 01/9/2016 đến ngày 15/10/2016.

Áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Bị cáo Nguyễn Công Đ – 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Bị cáo Lê Đoàn Ng – 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo – sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Đoàn Tuấn V và Nguyễn Duy T.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Bị cáo Đoàn Tuấn V – 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Đoàn Tuấn V phải chấp hành hình phạt chung là: 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt: Bị cáo Nguyễn Duy T – 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Phan Ngọc C, Nguyễn Công Đ, Lê Đoàn Ng mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Đoàn Tuấn V, Nguyễn Duy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ