- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Lục Tuấn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Lục T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. LONG KHÁNH-TỈNH ĐỒNG NAI ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2017/HSST Ngày: 16/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh
- Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Thanh Tùng
2/ Ông Mai Văn Khánh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiền - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16/11/2017 tại hội trường A Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2017/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Quách Lục T, sinh năm: 1978 tại Đồng Nai; HKTT và chỗ ở hiện nay: Hẻm A, đường H, khu phố T, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; cha: ông Quách Tuấn L (đã chết); mẹ: Nguyễn Thị Nh (1940); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Có 01 (một) tiền án. Ngày 28/11/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 09/2016/HSST ngày 28/11/2016. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/5/2017.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2017, tạm giam từ ngày 21/8/2017 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Long Khánh đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại:
1/ Cháu Bùi Kim Kh - sinh năm: 2003 (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Lê Thị Bích L - sinh năm: 1970 (mẹ ruột) (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 1, khu phố B, phường X, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Quách Lục T bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Khánh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Quách Lục T là đối tượng nghiệm ma túy. Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 12/8/2017, T đi bộ đến đoạn đường Nguyễn V thuộc phường X, thị xã L tìm kiếm tài sản để trộm cắp lấy tiền tiêu xài và sử dụng ma túy. Khi T đi ngang qua nhà chị Lê Thị Bích L thì thấy cổng đang mở, bên trong sân có dựng 01 xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu DK BIKE không có người trông coi nên T đi vào lấy trộm chiếc xe đạp điện trên. Khi T vừa quay đầu xe để dắt ra ngoài thì bị chị L từ trong nhà đi ra phát hiện và truy hô. T vứt xe đạp điện lại và bỏ chạy ra ngoài cổng thì bị anh Nguyễn Thanh T là hàng xóm của chị L bắt giữ giao cho Công an phường X.
Bản kết luận định giá tài sản số 101 ngày 17/8/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã L kết luận: Xe đạp điện hiệu DK BIKE màu đen, đã qua sử dụng có giá trị 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Bản cáo trạng số: 92/CT.VKS-HS ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Khánh truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung Bản cáo trạng đã nêu.
Tại tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Quách Lục T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó xác định được: khoảng 12 giờ 20 phút ngày 12/8/2017, bị cáo T đã lén lút vào nhà của chị Lê Thị Bích L nhằm mục đích trộm tài sản. Khi bị cáo chuẩn bị dắt chiếc xe đạp điện hiệu DK BIKE của cháu Kh, con chị L ra ngoài thì bị phát hiện bắt giữ. Do tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 2.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nhưng không qua lao động chân chính, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo hộ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự,
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa tỏ ra thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên cần áp dụng Điều 18 BLHS cho bị cáo khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đã trả lại cho chủ sở hữu, không ai yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Quách Lục T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 18; điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Quách Lục T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2017.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND TXLK; - CA TXLK; - THA TXLK; - Bị cáo, đương sự.; - Lưu HS. TOÀ ÁN NHÂN DÂN thị xã L Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH ĐỒNG NAI BIÊN BẢN NGHỊ ÁN --------------------- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh - Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Mai Văn Khánh Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự. đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Quách Lục T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: 1. Về tội danh: với giá trị 2.500.000 đồng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản". Ý kiến Hội thẩm 2 và Thẩm phán chủ tọa: thống nhất ý kiến trên Kết quả biểu quyết: 3/3 2. Về điều luật áp dụng: không lớn. Bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt. Đề nghị áp dụng các điều: khoản 1 Điều 138; Điều 18; điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 52 Bộ luật hình sự. Ý kiến Hội thẩm 2 và Thẩm phán chủ tọa: thống nhất ý kiến trên. Kết quả biểu quyết: 3/3 3. Về mức hình phạt: ngày 12/8/2017. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án. Ý kiến Hội thẩm 2 và Thẩm phán chủ tọa: thống nhất ý kiến trên. Kết quả biểu quyết: 3/3 4. Các vấn đề khác: ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: theo quy định pháp luật. Ý kiến Hội thẩm 2 và Thẩm phán chủ tọa: thống nhất ý kiến trên. Kết quả biểu quyết: 3/3 Kết luận: Tuyên bố bị cáo Quách Lục T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. khoản 1 Điều 48; Điều 52 Bộ luật hình sự. 12/8/2017. Ủy ban thường vụ quốc hội. thẩm. bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Việc nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 10 phút cùng ngày. Các hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Vân Khánh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN thị xã L 2/ Ông Lê Thanh Tùng Vào hồi 08 giờ 40 phút, ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại phòng nghị án, Hội Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ Ý kiến Hội thẩm 1: Bị cáo T có hành vi lén lút vào nhà bị hại trộm xe đạp Ý kiến Hội thẩm 1: bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại Ý kiến Hội thẩm 1: đề nghị xử phạt bị cáo 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ Ý kiến Hội thẩm 1: Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 18; điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g Xử phạt bị cáo Quách Lục T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |