vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và Lưu Thị Hồng H.

Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN QUÝ T. Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Luật phiêní, lệ phiêní; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L + ĐP phạm tội tổ chức sử dụng ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và Lưu Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày: 23/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phiênần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phiênán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Chu Văn Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Đỗ Thị Ái Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024; Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 11/01/2024 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN NGỌC L , sinh năm 1985.

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1951; Mẹ: Vũ Thị B, sinh năm 1954. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 3. Vợ: Lê Thị Ánh Ng, sinh năm 1988; có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam ngày 06/9/2023, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

2. NGUYỄN QUÝ T, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Nguyễn Quý T2, sinh năm 1966; Mẹ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Vũ Thị Th, sinh năm 1994; có 02 con: Lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017. Tiền sự: Không. Tiền án: Tại bản án hình sự phiênúc thẩm số 116/2021/HS-PT ngày 14/12/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã xử phiênạt NGUYỄN QUÝ T 16 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo chấp hành xong hình phiênạt tù ngày 18/01/2023.

Bị bắt tạm giam ngày 06/9/2023, hiện bị tạm giam tại Trại tam giam – Công an tỉnh Hải Dương.

3. LƯU THỊ HỒNG H (Tên gọi khác: Tr1), sinh năm 1988.

Nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phiênúc. Chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ. Trình độ văn hoá: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Lưu Văn C, sinh năm 1962; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1959. Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ hai. Chồng: Hoàng Văn Q, sinh năm 1984; có 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam ngày 06/9/2023, hiện bị tạm giam tại Trại tam giam – Công an tỉnh Hải Dương.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Khắc C1, chị Vũ Thị Thu Tr, chị Nguyễn Thị L2 và chị Bùi Hương Q2.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa; người làm đều vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 01/9/2023, NGUYỄN NGỌC L và LƯU THỊ HỒNG H đi uống bia về đến quán Karaoke M ở thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương thì L gặp chị Vũ Thị Thu Tr (là chủ quán Karaoke M) thuê phiênòng VIP 5, tầng 2 để hát rồi gọi điện thoại cho NGUYỄN QUÝ T bảo T đến quán Karaoke M hát cùng, T đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Khắc C1, bảo C1 đến quán Karaoke M để hát, C1 đồng ý. L và H lên phiênòng VIP 5 hát trước và bảo với chị Tr khi T đến thì hướng dẫn lên phiênòng VIP 5. Khi vào phiênòng VIP 5, H gọi điện thoại cho bạn là Lường Thị L2 - sinh ngày 30/5/2006, bảo đến quán Karaoke M tiếp khách thì L2 đồng ý. Lúc này, L2 đang đi cùng bạn là Bùi Hương Q2, L2 bảo Q2 đi cùng L2 đến quán Karaoke M. Khi H và L hát được khoảng 10 phiênút thì T và C1 lần lượt vào phiênòng VIP 5 hát cùng L và H. Khoảng 21 giờ 30 phiênút cùng ngày, L nói là L không có tiền và bảo T đưa tiền của T cho H đi mua 02 viên ma Ty loại kẹo (MDMA) và 01 chỉ ma Ty loại Ke (Ketamine) về sử dụng, T đồng ý. Sau đó, T nhờ H đi mua ma túy hộ, H nói giá 01 viên ma túy loại kẹo là 500.000 đồng và một chỉ Ke là 1.800.000 đồng. T đưa cho H số tiền 2.800.000 đồng nhờ H mua hộ 02 viên ma túy loại kẹo và 01 chỉ Ke. H cầm số tiền trên đi bộ đến khu vực đường liên thôn thuộc địa phiênận thôn B, xã T, huyện Kim Thành thì gặp một người đàn ông tên là H2 (không rõ lai lịch) đang ngồi một mình trên xe máy đỗ ở rìa đường, H mua của người này 01 túi nilon chứa 02 viên ma túy loại kẹo đã được chia thành 04 nửa viên và 01 túi nilon chứa ma túy loại Ke với giá 2.800.000 đồng (02 túi nilon chứa ma túy được quấn bên ngoài bằng giấy vệ sinh). H cầm gói ma túy mua được quay lại quán Karaoke M rồi đi vào bếp lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng cầm lên phiênòng VIP 5. H đưa gói ma túy cho T, T cầm mở gói giấy bên trong có 02 túi nilon chứa ma túy để lên trên bàn giữa phiênòng. Lúc này, L2 và Q2 vào phiênòng. H và T mỗi người lấy nửa viên ma túy loại kẹo cho vào miệng nuốt, L lấy nửa viên ma túy loại kẹo định sử dụng nhưng khi đi vệ sinh L thấy mệt nên vứt nửa viên ma túy vào bồn cầu không sử dụng nữa. Khi đi vệ sinh xong, L đi ra lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và thẻ căn cước công dân của L đưa cho H. H đổ túy ma túy loại Ke ra đĩa sứ, sử dụng thẻ căn cước công dân của L nghiền nhỏ ma túy trên đĩa, kẻ thành những đường nhỏ rồi lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn tròn thành hình ống hút. Sau đó, L, T, C1, Q2, L2 và H dùng ống hút hít ma túy loại Ke qua mũi vào cơ thể. Khoảng 0 giờ 20 phiênút ngày 02/9/2023, T đi về, lúc này, trên bàn trong phiênòng hát vẫn còn nửa viên ma túy loại kẹo, T không mang về mà để cho mọi người ở lại tiếp tục sử dụng. Hồi 00 giờ 30 phiênút ngày 02/9/2023, tại phiênòng VIP 5, quán Karaoke M, sau khi mọi người sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành phiênối hợp với Công an xã Tuấn Việt kiểm tra, thu giữ một mảnh (nửa) viên nén màu trắng, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa sứ còn bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành ống hút và 01 thẻ căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L . H khai một nửa viên nén màu trắng bị thu giữ nêu trên là ma túy loại kẹo, nếu không bị lực lượng công an phiênát hiện và thu giữ, H sẽ tiếp tục sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 424/KL-KTHS ngày 04/9/2023 của Phiênòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 01 mảnh viên nén màu trắng trong túi nilon được niêm phiênong trong phiênong bì gửi đến giám định có khối lượng 0,153 gam là ma tuý, loại MDMA. Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ được niêm phiênong trong phiênong bì gửi đến giám định, là ma tuý loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 0,116 gam ma tuý loại MDMA, 01 vỏ túi nilon, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 vỏ phiênong bì niêm phiênong mẫu vật gửi đến giám định. Đối tượng giám định được hoàn lại trong niêm phiênong số 424/KL-KTHS.

Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu ngày 03/9/2023 của NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H đều dương tính với ma túy loại Ketamine và MDMA; NGUYỄN NGỌC L , Bùi Hương Q2, Lường Thị L2 và Nguyễn Khắc C1 đều dương tính với ma túy loại Ketamine.

Quá trình điều tra, truy tố, NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H thừa nhận hành vi phiênạm tội.

Đối với vật chứng được hoàn lại sau giám định trong niêm phiênong số 424/KL-KTHS và 01 thẻ căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L , tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự.

Trong vụ án này, đối với người bán chất ma tuý cho Lưu Thị Hồng H, tài liệu điều tra không xác định được lý lịch nên không có căn cứ để xử lý. Đối với chị Vũ Thị Thu Trang, sau khi cho thuê phiênòng hát, chị Trang nghi ngờ Luật và H có dấu hiệu sử dụng trái phiênép chất ma tuý nên đã trình báo vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành không đề nghị xử lý chị Trang về hành vi để cho người khác lợi dụng sử dụng chất ma Ty trong khu vực mình quản lý, kinh doanh.

Đối với hành vi sử dụng trái phiênép chất ma Ty của Lường Thị L2, NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T, Lưu Thị Hồng H, Nguyễn Khắc C1 và Bùi Hương Quỳnh chưa đến mức phiênải truy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 30/10/2023, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ra các Quyết định xử phiênạt vi phiênạm hành chính số 2413/QĐ-XPHIÊNC và 2414/QĐ-XPHIÊNC đối với L2, Luật, T, H, C1 và Quỳnh.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT – VKS ngày 27/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố các bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phiênép chất ma Ty” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Các bị cáo đều thừa nhận đã thực hiện hành vi phiênạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo NGUYỄN NGỌC L xác định Căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L là Căn cước cũ, bị cáo đã làm lại Căn cước công dân mới, có gắn chíp nên không nhận lại, đề nghị xử lý theo quy định của phiênáp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phiênạm tội của các bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phiênạm tội và xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H đều phiênạm tội “Tổ chức sử dụng trái phiênép chất ma Ty”.

- Áp dụng:

Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và Lưu Thị Hồng H.

Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN QUÝ T.

Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136của Bộ luật tố tụng Hình sự. Luật phiêní, lệ phiêní; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Xử phiênạt:

+ NGUYỄN NGỌC L từ 08 năm 03 tháng tù đến 08 năm 09 tháng tù.

+ NGUYỄN QUÝ T từ 08 năm 03 tháng tù đến 08 năm 09 tháng tù.

+ LƯU THỊ HỒNG H từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm 03 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phiênạt tù đối với cả 03 bị cáo đều tính từ ngày bắt tạm giam 06/9/2023.

- Hình phiênạt bổ sung: Do cả 03 bị cáo đều không có công việc, thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phiênạt bổ sung là phiênạt tiền đối theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu cho tiêu hủy 0,116 gam ma tuý loại MDMA; 01 vỏ Ti nilon; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 vỏ phiênong bì niêm phiênong mẫu vật gửi đến giám định trong phiênong bì số 424/KL-KTHS và 01 thẻ Căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L ;

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phiênong bì niêm phiênong số 285/KL-KTHS của Phiênòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương.

- Về án phiêní: Các bị cáo đều phiênải chịu án phiêní hình sự sơ thẩm theo quy định của phiênáp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kim Thành; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp phiênáp.

Căn cứ xác định hành vi phiênạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H đều thừa nhận có hành vi phiênạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phiênù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phiênù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phiênút ngày 01/9/2023 tại phiênòng VIP 5, quán Karaoke M thuộc thôn Bùng Dựa, xã Tuấn Việt, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; NGUYỄN NGỌC L có hành vi thuê địa điểm, khởi xướng và cung cấp công cụ sử dụng ma Ty, NGUYỄN QUÝ T cung cấp tiền mua ma Ty, LƯU THỊ HỒNG H đi mua ma tuý, chuẩn bị công cụ để: T, H sử dụng trái phiênép chất ma Ty loại Ketamine và MDMA; T, H, Luật, Bùi Hương Quỳnh, Lường Thị L2 và Nguyễn Khắc C1 sử dụng trái phiênép chất ma Ty loại Ketamine (trong đó L2 sinh ngày 20/5/2006, là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi). Đến 00 giờ 30 phiênút ngày 02/9/2023 bị phiênát hiện, thu giữ vật chứng.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phiênép chất ma Ty” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng phiênáp luật.

Đánh giá vị trí, vai trò; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phiênạm tội:

Đây là vụ án có yếu tố đồng phiênạm, các bị cáo đều cố ý cùng thực hiện tội phiênạm; trong vụ án này, bị cáo Luật là người khởi xướng, thuê địa điểm và cung cấp dụng cụ để sử dụng chất ma Ty nên giữ vai trò chính; bị cáo T là người đưa tiền cho H đi mua ma Ty, sau khi mua ma Ty về thì H chế biến ma Ty và cùng các đối tượng khác sử dụng nên T và H giữ vai trò đồng phiênạm trong vụ án là người thực hành tích cực.

Hành vi phiênạm tội của các bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội và làm mất an ninh trật tự tại địa phiênương. Các bị cáo không những thực hiện hành vi sử dụng trái phiênép chất ma tuý mà còn thực hiện hành vi tổ chức cho đối tượng khác sử dụng ma tuý, trong đó có người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; các bị cáo đều nhận thức rõ hành vi phiênạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý tiếp tay cho một tệ nạn xã hội nguy hiểm mà nhà nước và nhân dân ta đang tích cực đấu tranh, bài trừ. Bị cáo NGUYỄN QUÝ T bị kết án năm 2021 về tội đánh bạc, chấp hành xong hình phiênạt tù vào tháng 01/2023 nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, cải tạo mà lại tiếp tục phiênạm tội, thể hiện sự bất chấp, coi thường phiênáp luật của bị cáo. Do vậy cần xét xử vụ án nghiêm minh, áp dụng hình phiênạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội và mang tính răn đe, phiênòng ngừa chung đối với loại tội phiênạm này.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo NGUYỄN QUÝ T là đối tượng bị kết án năm 2021 về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích lại phiênạm tội do cố ý nên phiênải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phiênạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Luật, H không phiênải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hình phiênạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có thu nhập, tài sản riêng nên không áp dụng hình phiênạt bổ sung là phiênạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng:

- Cơ quan giám định hoàn lại 0,116 gam ma tuý loại MDMA, 01 vỏ Ti nilon, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 vỏ phiênong bì niêm phiênong mẫu vật gửi đến giám định trong phiênong bì số 424/KL-KTHS và 01 thẻ Căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L . Đây là những vật chứng thu giữ trong vụ án, chất ma Ty thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; những vật chứng khác cùng 01 thẻ Căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L , do bị cáo xác định bị cáo đã làm lại Căn cước công dân theo quy định mới nên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phiênong bì niêm phiênong số 285/KL-KTHS của Phiênòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương được thu giữ trong vụ án, đây là tờ tiền của bị cáo Luật sử dụng là công cụ sử dụng ma Ty nên cho tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Án phiêní: Các bị cáo đều bị kết án nên phiênải chịu án phiêní hình sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

- Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và Lưu Thị Hồng H.

- Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo NGUYỄN QUÝ T.

- Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Luật phiêní, lệ phiêní; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên bố: Các bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H đều phiênạm tội “Tổ chức sử dụng trái phiênép chất ma Ty”.

3. Áp dụng hình phiênạt chính:

3.1 Xử phiênạt bị cáo NGUYỄN NGỌC L 08 năm 06 tháng tù.

3.2 Xử phiênạt bị cáo NGUYỄN QUÝ T 08 năm 03 tháng tù.

3.3 Xử phiênạt bị cáo LƯU THỊ HỒNG H 08 năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phiênạt tù đối với cả 03 bị cáo đều tính từ ngày bắt tạm giam 06/9/2023.

4. Hình phiênạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có thu nhập, tài sản riêng nên không áp dụng hình phiênạt bổ sung là phiênạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

5. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu cho tiêu hủy 0,116 gam ma tuý loại MDMA; 01 vỏ Ti nilon; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 vỏ phiênong bì niêm phiênong mẫu vật gửi đến giám định trong phiênong bì số 424/KL-KTHS và 01 thẻ Căn cước công dân mang tên NGUYỄN NGỌC L .

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong phiênong bì niêm phiênong số 285/KL-KTHS của Phiênòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương.

(Số lượng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).

5. Án phiêní: Các bị cáo NGUYỄN NGỌC L , NGUYỄN QUÝ T và LƯU THỊ HỒNG H mỗi bị cáo đều phiênải chịu 200.000 đồng án phiêní hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo; đã báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phiênán - Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:

- VKSND huyện Kim Thành.

- CQCSĐT - Công an huyện Kim Thành.

- Cơ quan THA hình sự Công an tỉnh Hải Dương

- Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương.

- Phiênòng hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh Hải Dương.

- Bộ phiênận hồ sơ nghiệp vụ - CA huyện Kim Thành.

- Chi cục THADS huyện Kim Thành.

- VKSND tỉnh Hải Dương.

- Sở Tư phiênáp tỉnh Hải Dương.

- Các bị cáo.

Cỡ chữ