vanban.org

Bản án 05/2023/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Châu Hồng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Châu Hồng L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 11/01/2023. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Châu Hồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Châu Hồng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HSST
Ngày: 11/01/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Anh Thư.

2. Bà Nguyễn Thị Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Anh– Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 187/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1160/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Châu Hồng L. Giới tính: Nam, sinh ngày: 30/4/1986, tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: phường Bình Hưng Hoà B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên cha: Châu Văn C - Đã chết, họ tên mẹ: Lê Thị B - đã chết. Gia đình bị cáo có 03 anh, em. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

Nhân thân:

- Ngày 19/6/1998, bị Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 224/QĐ/UB-NCVX đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng.

- Ngày 01/10/2001, bị Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 644/QĐ-UB đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng.

- Ngày 27/9/2004, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 1756/HSST ngày 27/9/2004. Ngày 13/4/2006, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, đã được xoá án tích.

- Ngày 12/01/2007, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 39/2007/HSST. Ngày 05/4/2010, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, đã được xoá án tích.

- Ngày 28/3/2012, bị Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 65/2011/HSST. Ngày 28/6/2013, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, đã được xoá án tích.

- Ngày 16/4/2014, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 129/2014/HSST. Ngày 07/9/2017, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, đã được xoá án tích.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 07/01/2021, bị Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 02/2021/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 21 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 05/10/2022 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Lê Minh N, sinh năm: 1996 - (vắng mặt).

Địa chỉ: Phường 11, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 29/9/2022, Châu Hồng L đi bộ đến trước số 3/5D Chu Mạnh Trinh, phường Bến Nghé, Quận 1 thì phát hiện thấy có một Ipad Pro 11 inch của anh Lê Minh N để trên yên xe môtô hiệu Honda loại Lead biển số 59E2-552.55 trước địa chỉ này. Do thấy không có người trông coi nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tiếp cận và dùng tay phải trộm cắp chiếc Ipad pro 11 inch rồi bỏ đi. Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, anh Lê Minh N đã đến Công an phường Bến Nghé, Quận 1 trình báo sự việc.

Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/10/2022, Châu Hồng L đang đi bộ đến giao lộ Nguyễn Thái Học – Trần Hưng Đạo, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ Ipad Pro 11 inch trên người L (L khai nhận là tài sản trộm cắp được mà có) nên bị đưa về trụ sở Công an phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1 làm rõ sau đó bàn giao L cùng vật chứng cho Công an phường Bến Nghé, Quận 1 lập hồ sơ, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 263/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận 01 Ipad Pro 11 inch (đã qua sử dụng) trị giá 17.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Châu Hồng L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của L phù hợp với lời khai bị hại, biên bản đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 thu thập được.

Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS –Q1 ngày 15/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Châu Hồng L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Châu Hồng L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” và một tiền sự về đưa người đi cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Châu Hồng L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

* Vật chứng vụ án và về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Minh N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

* Vật chứng vụ án gồm có:

- Đối với 01(một) đĩa DVD ghi nhận hình ảnh vụ việc là chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ.

- Thu giữ của Châu Hồng L: 01 (một) balô màu đỏ, 01 (một) đôi dép màu đen là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp, đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Các vật chứng trên hiện đang được Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 tạm giữ.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Châu Hồng L đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, người bị hại và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, biên bản bắt người, … đã được chứng minh tại phiên tòa nên có căn cứ để Kết luận: Vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 29/9/2022 tại trước nhà số 3/5D Chu Mạnh Trinh, phường Bến Nghé, Quận 1, Châu Hồng L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 Ipad Pro 11 inch trị giá 17.500.000 đồng của anh Lê Minh N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếm đoạt 01 Ipad Pro 11 inch trị giá 17.500.000 đồng của anh Lê Minh N. Vụ án không có đồng phạm, bị cáo một mình và trực tiếp thực hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội, trị an tại địa phương. Do vậy, nên cần có mức án thật nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

. Về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo:

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 19/6/1998, bị Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 224/QĐ/UB-NCVX đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng. Ngày 01/10/2001, bị Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 644/QĐ-UB đưa vào trường giáo dưỡng trong thời hạn 24 tháng. Ngày 27/9/2004, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 1756/HSST). Ngày 13/4/2006, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương (đã xoá án tích). Ngày 12/01/2007, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 39/2007/HSST). Ngày 05/4/2010, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương (đã xoá án tích). Ngày 28/3/2012, bị Toà án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” (bản án số 65/2011/HSST). Ngày 28/6/2013, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương (đã xoá án tích). Ngày 16/4/2014, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án số 129/2014/HSST). Ngày 07/9/2017, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương (đã xoá án tích). Bị cáo có nhân thân rất xâu, từng nhiều lần phạm tội về trộm cắp, cướp giật tài sản nay lại tiếp tục thực hiện hành phạm tội nên cần có hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe bị cáo. Về Tiền án: Không. Về tiền sự: Ngày 07/01/2021, bị Ủy ban nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 02/2021/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 21 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, nên cần có mức án thật nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan Điều tra và tại Phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về Vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Đối với 01(một) Ipad Pro 11 inch (đã qua sử dụng), được thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Lê Minh N, anh N không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 (một) đĩa DVD ghi nhận hình ảnh vụ việc là chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

- Đối với vật dụng cá nhân của bị cáo gồm: 01 balô màu đỏ, 01 đôi dép màu đen màu đen là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp, đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Châu Hồng L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Châu Hồng L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 11/01/2023.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Châu Hồng L.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

- Đối với 01 (một) đĩa DVD ghi nhận hình ảnh vụ việc là chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) balô màu đỏ, 01 (một) đôi dép màu đen (là trang phục L mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp) là vật dụng cá nhân bị cáo đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 255/2022/PNK-THAHS ngày 07/11/2022 của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 21; khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ