vanban.org

Bản án 05/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: A, B, D (Biu), K (Bi) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt A 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2021. Xử phạt B 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: A, B, D (Biu), K (Bi) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2022/HS-ST
Ngày: 14/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông KH , ông L

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M- Thư ký Tòa án

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Tr - Kiểm sát viên

Trong các ngày 11 và 14 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2021/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 và thông báo số 27B/TB-TA ngày 30/12/202021 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: A; Tên gọi khác: không; sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Tân B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: phường Tân X, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn L, sinh năm: 1964, và Nguyễn Th, sinh năm: 1972; vợ (đã ly hôn): Bùi Thị Thu T, sinh năm: 1996 và 01 con sinh năm 2017; tiền án; không; tiền sự: không;

Nhân thân: Tại bản án số 61/2020/HSST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xử phạt A 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2019, án phí nộp 09/8/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2.Họ và tên: B; Tên gọi khác: không; sinh năm 2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Tân Ph thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Chỗ ở: phường Tân B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn H (đã chết), con bà: Cao Thị Ngọc Th, sinh năm: 1975; tiền án: tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 04/6/2020 bị Công an thành phố Đồng Xoài xử phạt vi phạm hành chính số tiền 375.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp phạt.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3.Họ và tên: D; Tên gọi khác: Biu; sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:, phường Tân Ph thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: phường Tân B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần D (đã chết), con bà: Nguyễn Thị Ph, sinh năm: 1965; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

4.Họ và tên: K; Tên gọi khác: Bi; sinh ngày 21/6/2003; hộ khẩu thường trú: khu phố 4, phường Tiến Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở: Khu phố Tân Trà 2, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm: 1980, và Võ Thị Tuyết Lan, sinh năm: 1982; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo K: Bà H– Trợ giúp viên pháp lý tỉnh Bình Phước, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: T, sinh năm 1983; địa chỉ nơi cư trú: khu phố Phú Lộc, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, Bình Phước, vắng mặt.

Người làm chứng:

- M, sinh năm 1999; Địa chỉ nơi cư trú: ấp 8, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

- V, sinh năm 1986; Địa chỉ nơi cư trú: khu phố 3, phường Tiến Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân là người sử dụng trái phép chất ma túy nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/6/2021, A gọi điện thoại cho D nhờ D mua cho 1.000.000 đồng tiền ma túy đá thì D đồng ý. Sau đó A chuyển khoản cho D 1.000.000 đồng qua ví Momo, khi nhận được tiền qua tài khoản D đón tắc xi đi từ nhà tại khu phố Phú Lộc, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đến khu vực sân banh Minh Hiếu thuộc khu phố Tân Tiến, phường Tân Xuân, thành phố Đồng Xoài gặp người thanh niên tên Cu (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và hói mua ma túy thì Cu đồng ý. D chuyển tiền 1.000.000 đồng qua ví Momo cho Cu, sau khi nhận được tiền thì Cu đưa cho D gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng cất dấu ma túy vào quần đang mặc và đón tắc xi về phòng trọ số 31 nhà trọ “Nhà Tui” thuộc khu phố Tân Trà 2, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước của B và K thuê ở. Khi về đến phòng trọ D đem gói ma túy đá vừa mua được đưa cho A, lúc này có A, B, K, T trong phòng trọ. A đưa gói ma túy cho K nói K trích ma túy bỏ vào dụng cụ sử dụng để mọi người cùng sử dụng ma túy, K đi lại tủ trong phòng trọ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của K và B, trích một ít ma túy bỏ vào bộ dụng cụ để A, D, B, K và T cùng sử dụng, số ma túy còn lại K hàn kín cất vào túi da màu đen treo trên cửa sổ trong phòng trọ. Sử dụng ma túy được 05 phút D đi về phòng trọ số 33 nhà trọ “Nhà Tui” để ngủ, còn A, K, B và T tiếp tục sử dụng hết số ma túy còn lại trong bộ dụng cụ, rồi A đi ra ngoài. Đến 23 giờ cùng ngày, A quay lại phòng trọ lúc đó còn B và T vẫn còn trong phòng. A nói B trích một ít ma túy ra sử dụng thì B đồng ý và lấy số gói nylon K cất trong túi da màu đen trích ra một ít bỏ vào dụng cụ sử dụng ma túy, số còn lại hàn kín bỏ vào túi da màu đen cất giấu trong phòng trọ, A, B, T sử dụng hết số ma túy thì A về nhà. Đến 12 giờ ngày 08/6/2021, Công an thành phố Đồng Xoài phối hợp Công an phường Tân Bình kiểm tra hành chính phòng trọ 31 nhà trọ “Nhà Tui” phát hiện: 01 gói nylon kích thước 2,0 x 2,0cm bên trong chứa tinh thể màu trằng có khối lượng 0,3352gam, B, T, K khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá của A, B và K cất giấu trong phòng trọ để sử dụng, Công an thành phố Đồng Xoài lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K, B. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT thành phố Đồng Xoài bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với A, D.

Tại bản kết luận giám định số 169/2021/GĐ-MT ngày 14/6/2021 của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Tinh thể màu trắng ký hiệu M có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0.3352 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị dịnh 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ.

*Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố các bị cáo A, B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo D, K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm như sau:

-Bị cáo A áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo A mức án từ 08-09 năm tù;

-Bị cáo B áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo B mức án từ 07-08 năm tù;

-Bị cáo D áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo D mức án từ 07-08 năm tù;

-Bị cáo K áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 58, khoản 6 Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo B mức án từ 03-04 năm tù;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Mẫu vật hoàn lại có khối lượng 0,2824gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia (bì thư số 169 ngày 09/6/2021); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 túi da màu đen; 01 kéo bằng kim loại dài 12cm; 01 đoạn ống hút dài khoảng 8cm đề nghị tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Iphonne màu đỏ trắng của B; 01 điện thoại di động Samsung màu đỏ đen của K trả lại cho các bị cáo; 01 điện thoại di động Iphone, màu hồng trắng của A và 01 điện thoại di động Samsung, màu xanh đen của D đề nghị sung quỹ Nhà nước.

* Người bào chữa cho bị cáo K – Bà H trình bày: Thống nhất về tội danh và điều luật của Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên nhận thức pháp luật còn hạn chế, do bị cáo A rủ rê, bản thân chưa tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người chăm sóc duy nhất cho bà nội già yếu bị bệnh, do đó đề nghị xem xét áp dụng Điều 15, Điều 91 và Điều 101 khi quyết định hình phạt và cho bị cáo mức án 02 năm tù là phù hợp.

Các bị cáo tại phiên tòa thừa nhận T bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo A, B, D, K khai nhận T bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 01/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố.

[3] Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án; kết luận giám định số 169/2021/GĐ-MT ngày 14/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,3352gam. Phù hợp với bản kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/6/2021 A chuyển tiền qua ví Momo nhờ D mua 1.000.000 đồng ma túy của đối tượng tên Cu mang về phòng trọ số 31 nhà trọ có tên “Nhà Tui” thuộc khu phố Tân Trà 2, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài do B, K thuê ở. Tại đây, A đưa ma túy cho K kêu bỏ vào dụng cụ sử dụng ma túy của K và B để A, B, D, K và T là người đến chơi cùng sử dụng ma túy. Đến 23 giờ cùng ngày tại phòng trọ còn B và T, A kêu B trích một ít bỏ vào dụng cụ sử dụng lần 2, số còn B hàn kín bỏ vào túi da màu đen cất giấu trong phòng trọ. Đến 12 giờ ngày 08/6/2021, Công an thành phố Đồng Xoài kiểm tra hành chính phòng trọ 31 của K và B bắt quả tang thu giữ số ma túy còn lại trong túi da màu đen. Hành vi của các bị cáo A, B, D, K thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về lỗi, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo A, B, D đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn T nhận thức được việc mua ma túy về cùng nhau tổ chức sử dụng là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật nghiêm trị, song vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân các bị cáo cố ý thực hiện.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo được nhận định như sau:

Đối với A trực tiếp chuyển tiền cho D 1.000.000 đồng nhờ D mua ma túy, sau khi có được ma túy thì cung cấp cho cả nhóm B, D, K cùng sử dụng; Ngoài ra A còn kêu K là người chưa thành niên bỏ ma túy vào dụng cụ để cả nhóm sử dụng; nhân thân bị cáo xấu, năm 2018 đã bị Tòa án xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với B là đồng phạm tích cực, đã cung cấp nơi ở của mình, dụng cụ sử dụng ma túy và trực tiếp một lần lấy ma túy bỏ vào dụng cụ cho các bị cáo cùng sử dụng, bị cáo B sử dụng tổng cộng 02 lần. Nhân thân bị cáo xấu, ngày 04/6/2020 đã bị Công an thành phố Đồng Xoài ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với D là đồng phạm thực hiện hành vi nhận 1.000.000 đồng của A đi mua ma túy từ đối tượng tên Cu, sau khi mua được ma túy mang về phòng trọ số 31 của K và B giao lại cho A để cung cấp cho các bị cáo cùng sử dụng, D cùng sử dụng 01 lần.

Đối với K là đồng phạm cung cấp nơi ở của mình, dụng cụ sử dụng ma túy và trực tiếp một lần lấy ma túy bỏ vào dụng cụ để cùng các bị cáo A, B, D sử dụng, bị cáo K sử dụng 01 lần.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố các bị cáo A, B với tình tết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo D, K với tình tết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự, an T xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của chính các bị cáo cũng như của công dân.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo A xúi giục bị cáo K là người chưa thành niên thực hiện hành vi bỏ ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy cho cả nhóm cùng sử dụng. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo A phạm tội lần thứ 2 nên không áp dụng tình tiết ăn năn hối cải; các bị cáo B, D, K được áp dụng tình tiết ăn năn hối cải; Đối với bị cáo K khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng khoản 6 Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo theo quy định đối với người chưa thành niên và gia đình có công với cách mạng nên áp dụng khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[6] Các đối tượng khác:

-Người thanh niên tên Cu là người đã bán ma túy cho D, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, số tài khoản Momo D chuyển tiền cho Cu, D đã hủy, không xác định được số tài khoản nên chưa có căn cứ để xử lý;

-Đối với M là đối tượng nghiện ma túy, T đến phòng trọ của B chơi và được các bị cáo cho sử dụng ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ;

-Đối với bà T là chủ nhà trọ “Nhà Tui”. Bà T không biết các bị cáo mua ma túy về cất giấu và cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng trọ.

Do đó Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Bà H- người bào chữa cho bị cáo K đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo K mức án 02 năm tù là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[9] Vật chứng vụ án:

-Các dụng cụ và số ma túy dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy gồm: Mẫu vật hoàn lại có khối lượng 0,2824gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia (bì thư số 169 ngày 09/6/2021); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 túi da màu đen; 01 kéo bằng kim loại dài 12cm; 01 đoạn ống hút dài khoảng 8cm.

- 01 điện thoại di động Iphone, màu hồng trắng của A và 01 điện thoại di động Samsung, màu xanh đen của D do dùng vào việc phạm tội tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 điện thoại di động Iphonne màu đỏ trắng của B, 01 điện thoại di động Samsung màu đỏ đen K do không liên quan đến vụ án nên trả lại.

[8] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: A, B, D (Biu), K (Bi) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt A 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2021.

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt B 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2021.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt D 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2021.

-Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 58, khoản 6 Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt K 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 08/6/2021.

3.Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn lại có khối lượng 0,2824gam được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia (bì thư số 169 ngày 09/6/2021); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 túi da màu đen; 01 kéo bằng kim loại dài 12cm; 01 đoạn ống hút dài khoảng 8cm;

Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động Iphone, màu hồng trắng và 01 điện thoại di động Samsung, màu xanh đen đều đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong.

Trả lại cho B 01 điện thoại di động Iphonne màu đỏ trắng; K 01 điện thoại di động Samsung màu đỏ đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001939 quyển số 0039, ký hiệu D47/2017 ngày 01/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).

4.Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5.Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ