- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Cửu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Cửu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| A TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2020/HS-ST Ngày: 14.01.2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Sỹ
2. Bà Huỳnh Thị Lệ
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T Luận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 149/2019/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Huỳnh Cửu L (Tên gọi khác: T) - Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1991 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 28, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh N (Sinh năm 1964) và bà Lê Thị H (Sinh năm 1965); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ là bà Nguyễn Kim H (Sinh năm 1992) và có 01 con tên Huỳnh Gia K (sinh năm 2016). Tiền án, tiền sự: chưa.
Nhân thân: Ngày 25.11.2010, TAND quận Liên Chiểu xử phạt Huỳnh Cửu L 03 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30.8.2011.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa
- Người bị hại: Ông Trần Đình H – Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ 22, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị T – Sinh năm 1957 – Chủ cơ sở dịch vụ cầm đồ M
Địa chỉ: Số 52 đường A, phường H, quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bà Bạch Thị M – Sinh năm: 1996; Nơi cư trú: K34/26 đường A, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Ông Phạm Ngọc D – Sinh năm 1991; Nơi cư trú: Số 121 đường P, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 ngày 22.9.2019, Huỳnh Cửu L điều khiển xe mô tô BKS 82K9- xxxx đi từ nhà ra cảng xi măng Hải Vân để xem câu cá, khi đi ngang qua nhà anh Trần Đình H (SN: 1984, trú: tổ 22, phường H, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) thì thấy không có người nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L dừng xe lại cách nhà anh H khoảng 05m rồi đi bộ vào nhà anh H lấy trộm 02 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại hiệu OPPO F7 màu đỏ và 01 điện thoại hiệu OPPO A3S màu tím đen đang sạc pin để trên tủ. Sau khi lấy được tài sản, L đến tiệm cầm đồ M tại số 52 đường A, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu bán cho chị Bạch Thị M (sinh năm 1996, trú tại K34/26 đường A, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu) là nhân viên của quán chiếc điện thoại OPPO F7 với giá 2.000.000 đồng. Ngày 23.09.2019, L tiếp tục đem chiếc điện thoại OPPO A3S đến tại tiệm điện thoại N số 121 đường P, P. Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu bán cho anh Phạm Ngọc D (sinh năm 1991, trú tại 121 đường P, P. Hòa Khánh Nam) với giá 1.300.000đồng. Ngày 07.10.2019, Công an phường Hòa Hiệp Bắc mời Huỳnh Cửu L về trụ sở làm việc, tại Cơ quan Công an L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận số 81/KL-HDĐG ngày 10.10.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Liên Chiểu kết luận trị giá một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7 màu đỏ là 3.495.000đồng, trị giá một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu tím đen là 2.310.000đồng. Tổng giá trị tài sản Huỳnh Cửu L chiếm đoạt là 5.805.000đồng (Năm triệu tám trăm lẻ năm ngàn đồng).
Tang vật tạm giữ:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F7, màu đỏ;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, màu tím đen;
- 01 xe mô tô BKS 82 K9- xxxx.
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 82K9-xxxx mang tên Phạm Đức T.
Ngày 01.11.2019, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 94/CSĐT trả lại cho anh Trần Đình H một điện thoại di động nhãn hiệu Ioppo F7 màu đỏ và một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu tím đen. Anh Trần Đình H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.
Đại diện gia đình Huỳnh Cửu L cũng đã bồi thường cho bà Trần Thị T số tiền 2.000.000 đồng, bồi thường cho anh Phạm Ngọc D số tiền 1.300.000đồng.Bà T và anh D không có yêu cầu gì thêm.
Trong vụ án có chị Bạch Thị M và anh Phạm Ngọc D là những người mua tài sản do L mang đến bán nhưng chị M, anh D không biết những tài sản đó do L trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu không đề cập xử lý là có cơ sở.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu BKS 82K9- xxxx mà Huỳnh Cửu L sử dụng vào ngày đi thực hiện hành vi phạm tội, chủ sở hữu chiếc xe này là anh Phạm Đức T (địa chỉ: Thôn 02, X. Đăk Mar, H. Đăk Hà, T. KonTum). Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã tiến hành xác minh nhưng tại Thôn 02, X. Đăk Mar, H. Đăk Hà, T. KonTum không có người nào tên là Phạm Đức T. Huỳnh Cửu L khai nhận chiếc xe này L mua của một người đàn ông tên là Lê Văn V trú tại P. Hòa Hiệp Bắc nhưng qua xác minh thì tại P. Hòa Hiệp Bắc cũng không có người đàn ông nào tên là Lê Văn V. Xét thấy chiếc xe mô tô BKS 82K9-xxxx không rõ nguồn gốc nên đề nghị Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu tiếp tục tạm giữ để điều tra xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 16 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố bị cáo Huỳnh Cửu L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Huỳnh Cửu L từ 9 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Cửu L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo L: Bị cáo L cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình sai trái và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 16h00 ngày 22.9.2019, tại tổ 22, phường H, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, trên đường đi chơi về Huỳnh Cửu L đã lợi dụng trong lúc nhà anh Trần Đình H không có ai ở nhà nên đã lén lút đột nhập vào nhà lấy trộm 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F7 màu đỏ và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S màu tím đen của anh H. Trị giá tài sản Huỳnh Cửu L chiếm đoạt là 5.805.000đồng. Hành vi của bị cáo Huỳnh Cửu L đã bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy:
Mặc dù Huỳnh Cửu L nhận thức rõ việc xâm phạm tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng do muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo bất chấp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương, đã phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên cần xử phạt với mức án nghiêm.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Huỳnh Cửu L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 25.11.2010, TAND quận Liên Chiểu xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30.8.2011.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho người bị hại, người bị hại anh Trần Đình H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo là gia đình có truyền thống cách mạng, hiện là hộ nghèo tại địa phương. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Trần Đình H đã được trả lại tài sản; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Bạch Thị M – Chủ tiệm cầm đồ M đã nhận lại số tiền 2.000.000đồng và anh Phạm Ngọc D đã nhận lại số tiền 1.300.000đồng. Anh H, chị Tám và anh D không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu BKS 82K9- xxxx mà Huỳnh Cửu L sử dụng vào ngày đi thực hiện hành vi phạm tội, chủ sở hữu chiếc xe này là anh Phạm Đức T (địa chỉ: Thôn 02, X. Đăk Mar, H. Đăk Hà, T. KonTum). Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã tiến hành xác minh nhưng tại Thôn 02, X. Đăk Mar, H. Đăk Hà, T. KonTum không có người nào tên là Phạm Đức T. Huỳnh Cửu L khai nhận chiếc xe này L mua của một người đàn ông tên là Lê Văn V trú tại P. Hòa Hiệp Bắc nhưng qua xác minh thì tại P. Hòa Hiệp Bắc cũng không có người đàn ông nào tên là Lê Văn V. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu BKS 82K9- xxxx để làm rõ xử lý sau là có cơ sở.
Trong vụ án có chị Bạch Thị M và anh Phạm Ngọc D là những người mua tài sản do L mang đến bán nhưng chị M, anh D không biết những tài sản đó do L trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu không đề cập xử lý là có cơ sở.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Cửu L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Cửu L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng vào khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Huỳnh Cửu L 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Huỳnh Cửu L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) đồng.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng những người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND TP Đà Nẵng; - Viện KSND quận Liên chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - Chi cục THADS quận Liên Chiểu; - Trại giam Công an TP Đà Nẵng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Hồng Thủy |