vanban.org

Bản án 05/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 07/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn Đ - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HS-ST
Ngày: 07/01/ 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thành Liêm

Các hội thẩm nhân dân

1. Ông Hoàng Văn Tân

2. Ông Phạm Quốc Vương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn- Kiểm sát viên .

Ngày 07/01/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/TLST-HS ngày 21/12/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 04/2018/QĐXXST-HS ngày 24/12/2018 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, sinh ngày: 05/8/1984 tại Bắc Giang; Tên gọi không; Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1946 ; Bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị K, sinh năm 1992; Bị cáo có 01 con sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: ngày 22/7/2014 bị Công an tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính về hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá nhập lậu số tiền 45.000.000đ; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2018 đến ngày 13/9/2018 được trả tự do và cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08/9/2018 Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 70K-341.18 đi từ nhà đến ấp Kà Ốt, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh mục đích tìm thuốc lá nhập lậu mua và đem bán kiếm lời. Đ gặp một người đàn ông tên B, không rõ nhân thân lai lịch ở khu vực lô cao su thuộc ấp Kà Ốt và thỏa thuận mua 190 cây thuốc lá nhập lậu (mỗi cây có 10 gói, mỗi gói thuốc có 20 điếu), cụ thể gồm: 110 cây thuốc hiệu Hero và 80 cây thuốc lá hiệu Jet với giá 01 cây thuốc Hero 135.000đ, 01 cây Jet1 165.000đ. Tổng số tiền Đ trả cho người đàn ông tên B để mua 110 cây thuốc là 28.050.000đ. Sau đó, Đ sử dụng xe mô tô chở toàn bộ 110 cây thuốc về huyện H, tỉnh Bình Phước tìm nơi tiêu thụ. Khi đến đoạn đường ĐT 752 thuộc tổ 6, ấp 2, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an tỉnh Bình Phước phát hiện và bắt quả tang cùng với toàn bộ số thuốc lá mà Đ mới mua. Quá trình điều tra, Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 03/CTr-VKSHQ ngày 20/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đoàn: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án:

Bị cáo hiện còn cha mẹ già và có con còn nhỏ, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ cơ sở khách quan để xác định:

Với ý định mua thuốc lá nhập lậu giá rẻ từ huyện C, tỉnh Tây Ninh sau đó qua huyện H, tỉnh Bình Phước tìm nơi tiêu thụ để kiếm lời nên khoảng 2 giờ 30 phút ngày 08/9/2018 Đ đã đến xã T, huyện C tỉnh Tây Ninh mua 190 cây thuốc lá nhậu lậu do một số đối tượng vận chuyển từ Campuchia về Việt Nam sau đó vận chuyển đi tiêu thụ. Trên đường đi tìm nơi tiêu thụ Đ đã bị lực lượng Công an tỉnh Bình Phước phát hiện và bắt quả tang.

Về ý thức chủ quan: Bị cáo biết rõ việc mua bán thuốc lá nhập lậu là bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện, hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành từ thời điểm bị cáo giao dịch mua thuốc của người khác sau đó đang vận chuyển đi tiêu thụ với số lượng rất lớn đó là 1.900 bao.Theo nội dung công văn số 1439/SCT-TM về việc xác nhận thuốc lá điếu ngày 12/9/2018 cho kết quả: 1.100 bao thuốc lá hiệu hero; 800 bao thuốc lá hiệu Jet số thuốc lá trên không có tem nhập khẩu, không in hình cảnh báo sức khỏe và chữ tiếng Việt. Qua đối chiếu với các quy định hiện hành toàn bộ số thuốc lá nêu trên không được nhập khẩu vào Việt Nam.

Trên cơ sở đó , Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố về tội Buôn bán hàng cấm là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông, kinh doanh. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý mục đích của bị cáo vì lợi nhuận cho bản thân gây ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Do đó, cần có hình phạt tương xứng đối với tính chất và hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra.

Xét về nhân thân: vào năm 2014 bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi tương tự nhưng vì mục đích lợi nhuận cho bản bản thân bị cáo lại tiếp tục vi phạm với số lượng hàng hóa nhiều hơn lần trước nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong lĩnh vực kinh doanh thương mại gây thất thu cho ngân sách Nhà nước nên cần thiết áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Bị có không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với hành phạm tội của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng vụ án: Đối với 190 cây thuốc lá là hàng hóa cấm lưu hành cần thiết tịch thu tiêu hủy.

4 túi nylon màu đen, 2 sợi dây cao su không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe Exciter là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do có liên quan đến vụ án khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển đến Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội: “ Buôn bán hàng cấm”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn Đoàn 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

3. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 190 cây thuốc lá gồm: 110 cây thuốc lá hiệu Hero (1.100 bao) và 80 cây (800 bao) thuốc lá hiệu Jet, 4 túi nylon màu đen, 2 sợi dây cao su.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0005594 ngày 27/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ