vanban.org

Bản án 05/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điểm p khoản 1,2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS; xử phạt: Nguyễn Đình Q 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2017. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Đ đã nhận lại tài sản: 01 chiếc điện thoại hiệu Iphon 6S Plu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Q - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HSST
Ngày 31/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG – TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lợi

Bà Hoàng Thị Thúy

- Thư ký Toà án phiên toà: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên toà:

Ông Ngô Thọ Pha - Kiểm sát viên.

Ngày 31/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2018/HSST ngày 03/01/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình Q, sinh 1996 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn 6, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình V và bà: Phạm Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: Bản án số 75 ngày 24/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị tạm giữ từ ngày 02/11/2017 đến 07/11/2017 chuyển tạm giam; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 01/11/2017, Nguyễn Đình Q điều khiển xe đạp điện của Trần Thị Diệu L, sinh năm 2002 ở thôn 6, xã Q, huyện Q chở L từ nhà Q đến trường THPT Q ở xã Q, huyện Q học thêm. Sau khi chở L đến trường, Q điều khiển xe đạp điện về nhà. Trên đường về, Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên quan sát các nhà hai bên đường xem nhà nào sơ hở hoặc không có người ở nhà thì vào trộm cắp tài sản. Khi đi đến thôn T, xã Q, huyện Q, Q phát hiện ngôi nhà mái bằng của gia đình chị Trần Thị Đ có mái tum trên sân thượng, khóa cửa không có người ở nhà, nhưng do lúc đó trời sáng, có nhiều người qua lại sợ bị phát hiện nên Q đi về nhà. Đến khoảng 18h 30’ cùng ngày Q đi bộ một mình từ nhà Q xuống nhà chị Đ để trộm cắp tài sản. Đến nơi quan sát thấy không có ai ở nhà Q đi ra phía sau nhà, trèo tường vào bên trong rồi đu người bám vào ô văng cửa sau nhà trèo lên sân thượng. Thấy cửa tum làm bằng gỗ đóng mở ra bên ngoài, Q dùng tay tìm cách mở cửa tum sân thượng. Sau khi mở được cửa thì thấy chị Đ đi làm về, Q ngồi nép người trên tầng tum quan sát thấy chị Đ dắt xe máy vào nhà, sau đó chị Đ cầm hai chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc IPHONE 6S plus màu trắng bạc và 01 chiếc NOKIA 130 bàn phím trần màu đen trong túi xách đặt xuống chân cầu thang phòng khách để sạc pin, rồi vào phòng dạy học cho con. Thấy vậy, Q đi xuống rút dây sạc, cầm hai chiếc điện thoại bỏ vào túi quần của mình, rồi đi lên sân thượng trèo xuống đất qua lối cũ và đi tắt qua cánh đồng về nhà mình tìm nơi tiêu thụ (Bl 01; 43-57). Sau khi phát hiện mất tài sản, chị Đ đã báo cáo Công an xã Q, huyện Q và Công an huyện Quảng Xương để điều tra (Bl 21).

Ngày 02/11/2017 biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình nên Q đến cơ quan CSĐT huyện Quảng Xương đầu thú, khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 02 chiếc điện thoại mà mình đã trộm cắp cho Cơ quan điều tra (BL 01).

Theo chị Trần Thị Đ khái báo, chiếc điện thoại di động IPHONE 6S Plus màu trắng bạc và chiếc NOKIA 130 bàn phím trần màu đen là tài sản của chị, tại thời điểm bị Q trộm cắp tổng trị giá khoảng 10.300.000đ (Bl 21). Ngày 02/11/2017 Hội đồng định giá tài sản huyện Quảng Xương định giá hai chiếc điện thoại trên trị giá 8.250.000đ (BL 30). Ngày 08/11/2017 cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu hợp hợp pháp là chị Trần Thị Đ. Chị Đ đã nhận lại 2 chiếc điện thoại bị mất trộm và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự (Bl 24-25).

Qua điều tra xác minh Nguyễn Đình Q là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản gì đáng giá, Q không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định.

Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 31/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Đình Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 138 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1,2 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS - Xử phạt: Nguyễn Đình Q từ 08 tháng đến 10 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì vì vậy không xem xét. Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản vì vậy đề nghị miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/11/2017, Nguyễn Đình Q đã lén lút trèo tường, đu bám vào ô văng cửa sau nhà trèo lên sân thượng đi qua tum sân thượng vào nhà chị Trần Thị Đ tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphon 6S Plut và 01 điện thoại di động hiệu Nokia của chị Đ.

Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá huyện Quảng Xương: chiếc điện thoại hiệu Iphon 6S Plut trị giá 8.000.000 đồng, chiếc điện thoại di động hiệu Nokia trị giá: 250.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Theo qui định tại khoản 1 Điều 138 bộ luật Hình sự 2003 qui định: "Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ". Như vậy hành vi lén lút trèo tường vào nhà người bị hại chiếm đoạt tài sản trị giá 8.250.000 đồng của Nguyễn Đình Q đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản".

Quyết định truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS .

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vì mục đích tư lợi bị cáo đã có hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, do đó cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

+ Bị cáo có 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản"- tình tiết tái phạm theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS.

+ Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy;

+ Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú khai báo hành vi phạm tội (tình tiết qui định tại điểm p khoản 1,2 Điều 46 BLHS) giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật Hình sự qui định "Người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng", do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Đ đã nhận lại tài sản: 01 chiếc điện thoại hiệu Iphon 6S Plut, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia và không có đề nghị gì, vì vậy không xem xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Đình Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điểm p khoản 1,2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 BLHS; xử phạt: Nguyễn Đình Q 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Đ đã nhận lại tài sản: 01 chiếc điện thoại hiệu Iphon 6S Plut, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia và không có đề nghị gì, vì vậy không xem xét.

Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điểm a, c Khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I, Điểm a Tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 233 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ