- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| . TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH LẠNG SƠN _____________ Bản án số: 05/2018/HSST Ngày: 29/3/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Quang Ngọc
Ông Nguyễn Đức Thọ
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kim Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Trần Lệnh Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 29/3/2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số: 02/2018/HSST, ngày 08/02/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2018/HSST-QĐ ngày 19/3/2018 đối với bị cáo:
Hoàng Văn H, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1994, tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp làm ruộng; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc tày; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Phạm Thị N; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2016 đến ngày 22/11/2016, nay được tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Anh Âu Mạnh H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Có đơn xin xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
2. Anh Hoàng Chín T, sinh năm 1994. Vắng mặt.
3. Anh Nông Văn T, sinh năm 1994. Vắng mặt.
4. Anh Lường Văn C, sinh năm 1994. Vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
5. Chị Lê Thanh D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 19/7/2016, Hoàng Văn H sinh ngày 21/12/1994, Hoàng Văn Th, sinh năm 1994 cùng trú tại thôn C, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và Hoàng Chín T, Nông Văn T, Lường Văn C cùng sinh năm 1994, đều trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Cả nhóm sau khi đi dự sinh nhật ở thị trấn L đã điều khiển xe mô tô đi về nhà, trên đường về đến đoạn đường rẽ vào thôn P, xã Đ thì nhóm của Hoàng Văn H gặp hai xe mô tô đi cùng chiều do Âu Mạnh H, sinh năm 1986, trú tại thôn Q, xã Đ điều khiển chở sau là Hoàng Hồng T, sinh năm 2001, trú tại thôn B, xã X, huyện L; Lê Thanh D, sinh năm 1990, trú tại thôn Q, xã Đ điều khiển chở sau là Âu Thị H, sinh năm 1999 là người cùng thôn. Nhóm của Hoàng Văn H điều khiển xe mô tô vượt lên phía trước, quá trình vượt xe lên thì nhóm của Hoàng Văn H có trêu Âu Thị H và Hoàng Hồng T nên Âu Mạnh H đã gọi nhóm của Hoàng Văn H dừng lại, nhóm của Hoàng Văn H dừng xe cách nhóm của Âu Mạnh H khoảng 10m rồi đi bộ về phía nhóm của Âu Mạnh H, thấy vậy, Âu Thị H, Hoàng Hồng T và Lê Thanh D do sợ bị đánh nên đã xuống xe bỏ chạy, còn Âu Mạnh H thì lấy gậy sắt- loại gậy rút ba khúc để ở giá xe mô tô. Hoàng Văn T tiến đến phía Âu Mạnh H thì bị Âu Mạnh H dùng gậy sắt vụt trúng vào vùng trán của Hoàng Văn T. Thấy Hoàng Văn T bị đánh thì Hoàng Văn H, Hoàng Chín T, Lường Văn C và Nông Văn T lao vào đánh Âu Mạnh H. Hoàng Văn H dùng tay trái túm cổ áo Âu Mạnh H, tay phải đấm về phía mặt của Âu Mạnh H nhưng Âu Mạnh H tránh được, tiếp đó Hoàng Văn H dùng tay phải vòng qua vai và vật Âu Mạnh H ngã xuống đất, trong khi ngã xuống đất thì Hoàng Văn H thấy sợi dây chuyền của Âu Mạnh H rơi xuống đất ngay gần chỗ Hoàng Văn H đứng. Lúc này Hoàng Văn H lợi dụng việc Âu Mạnh H và các bạn của Hoàng Văn H không để ý nên Hoàng Văn H đã nhanh chóng nhặt sợi dây chuyền đút vào túi quần. Sau đó Hoàng Chín T, Lường Văn C, Hoàng Văn T và Nông Văn T tiếp tục lao vào đánh Âu Mạnh H, trong lúc Âu Mạnh H đang bị đánh thì điện thoại của Âu Mạnh H để trong túi quần có người gọi đến nên Hoàng Chín T rút điện thoại của Âu Mạnh H ra và nói: “Có phải thằng bỏ chạy gọi cho mày không?”, Âu Mạnh H không trả lời nên Hoàng Chín T ném điện thoại của Âu Mạnh H xuống đất và dùng chân phải dẫm làm hỏng điện thoại của Âu Mạnh H, sau đó Hoàng Chín T bảo mọi người không đánh nữa thì tất cả dừng lại, Âu Mạnh H bỏ chạy, còn nhóm của Hoàng Văn H đưa Hoàng Văn T đến trạm xá xã Đ sơ cứu vết thương sau đó cùng về nhà. (BL: 373 đến 394).
Tại bản kết luận giám định số 3514/C54 (P4) ngày 26/8/2016 của Viện khoa học hình sự- Bộ công an kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền kim loại mầu trắng gửi giám định có khối lượng 151 gam là bạc (Ag), hàm lượng Ag trung bình là 92,75% (BL: 53).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận tài sản là 01 dây chuyền bạc có trọng lượng 40 chỉ 02 phân (cả công chế tác thành sợi dây chuyền có trọng lượng 40 chỉ 02 phân) có giá trị là 2.109.977đ (Hai triệu, một trăm linh chín nghìn, chín trăm bẩy mươi bẩy đồng).
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 06/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung, nay là khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ nội dung nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai có trong hồ sơ được công bố tại phiên tòa của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
Phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo về tội "trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 33, Điều 45, điểm b, h, p, g khoản 1 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị phạt bị cáo từ 04 tháng 01 ngày đến 6 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho bị cáo chiếc xe máy và giấy tờ và 01 chiếc điện thoại; tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bản thân là sai, hối hận về việc làm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.Về áp dụng pháp luật: Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, thì cần áp dụng các quy định tại Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung để xét xử bị cáo là phù hợp.
Về hành vi cấu thành tội phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đã có hành vi lén lút thông qua việc quan sát không ai để ý bản thân và tài sản của người bị hại, với mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã nhanh tay đút tài sản là chiếc dây chuyền bạc của bị hại vào túi quần tránh người khác phát hiện, lúc mất tài sản bị hại không biết là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác, gián tiếp xâm phạm về trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ nhận thức để điều khiển hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Văn H đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung. Không có chứng cứ ngoại phạm đối với bị cáo.
Để có căn cứ cá thể hóa hình phạt, Hội đồng xét xử phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Khi hai bên dùng vũ lực để đánh nhau, mục đích dùng vũ lực nhằm để gây thương tích cho nhau, xuất phát từ tính hung hăng của cả hai bên, trong quá trình vật lộn việc tài sản của người bị hại rơi là khách quan, nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Lẽ ra, nếu không có mục đích chiếm đoạt thì bị cáo phải tôn trọng tài sản của người khác, thay vào đó bị cáo lại lợi dụng sơ hở, không ai chú ý đã lén lút chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích tư lợi từ tài sản đã chiếm đoạt, hành vi chiếm đoạt này mang tính bột phát không có chủ đích, động cơ trước đó, có ý che giấu, lén lút đối với bị hại và những người xung quanh.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào khác. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn, ăn năn hối cải, gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã khắc phục được thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, h, p, g khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, có căn cứ áp dụng điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo truy tố về khung thấp nhất của điều luật, có thể xử phạt bị cáo mức thấp hơn mức khởi điểm nhưng vẫn đảm bảo mức án tù có thời hạn theo Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung cũng đảm bảo tính giáo dục, răn đe riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này chưa vi phạm pháp luật lần nào. Từ nhận định trên, cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về tội danh và hình phạt là có căn cứ. Miễn hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định.
Đối với việc Âu Mạnh H bị nhóm của Hoàng Văn H dùng chân tay đánh thì tại Bản giám định pháp y về thương tích số 223/2016/TgT của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận mức độ tổn hại sức khỏe của Âu Mạnh H là 13%, tuy nhiên hai bên đã thỏa thuận về dân sự, Âu Mạnh H có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý hình sự về hành vi Cố ý gây thương tích của Hoàng Văn H, Hoàng Chín T, Nông Văn T, Lường Văn C và Hoàng Văn T là có cơ sở.
Đối với Hoàng Chín T, trong quá trình đánh nhau đã có hành vi đập vỡ một chiếc điện thoại di động của Âu Mạnh H, Cơ quan điều tra đang củng cố tài liệu chứng cứ và xem xét giải quyết trong một vụ án khác là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường và không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Đối với tài sản là chiếc xe máy và điện thoại di động của bị cáo không dùng vào việc phạm tội cần tuyên trả cho bị cáo, đối với vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 138, các điểm b, h, p, g khoản 1 và khoản 2 Điều 46, các Điều 33, 45, 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi bổ sung.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội trộm cắp tài sản. Phạt bị cáo Hoàng Văn H 04 tháng, 01 ngày (bốn tháng 01 ngày) tù. Xác nhận bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Tuyên trả cho bị cáo Hoàng Văn H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS mầu xanh – đen, biển kiểm soát 12L1 – 11068, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 004718 mang tên Hoàng Văn H và một chìa khóa xe; 01 (một) điện thoại di động OPPO 1201 màu trắng vỏ bọc bên ngoài được dán nilon màu.
Tuyên tịch thu tuyên hủy 01 (một) cây gậy rút bằng kim loại dạng ống gồm 02 đoạn dài 44cm, đường kính 2,5cm; 01 vỏ ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng và chữ Manchester Uniter;
(đặc điểm chi tiết, vật chứng theo biên bản và hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2016).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình; - Công an huyện Lộc Bình; - Chi cục THA DS huyện L; - Bị cáo (theo địa chỉ); - Bị hại (theo địa chỉ); - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; -................................................................; - Lưu hồ sơ và Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |