vanban.org

Bản án 05/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”.

Các bị cáo Đỗ Văn P, Hà Dũng T2, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, mỗi bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 (03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Mỗi bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ kể từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2018/HS-ST
Ngày: 31 - 01 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc Bích.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Hạnh; Ông Vũ Xuân Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2017/HSST ngày 26/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2018/QĐXXST - HS ngày 05/01/2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Văn T - Sinh năm 1985 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Hà Văn T4 (đã chết) và bà Hà Thị H, sinh năm 1955 trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; gia đình có 03 chị, em bị cáo là con thứ ba; vợ: Hà Thị Thanh T, sinh năm 1987 hiện trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/7/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “đánh bạc”; biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 chuyển tạm giam hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ C an huyện Ý Yên. Có mặt.

2. Họ và tên: Hà Dũng T2 - Sinh năm 1984 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Hà T (đã chết) và bà Vũ Thị T, sinh năm 1954 trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; gia đình có 03 anh, chị, em bị cáo là con thứ ba; vợ: Đinh Thị T, sinh năm 1990 hiện trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; con: có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Họ và tên: Đỗ Văn P - Sinh năm 1976 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Đỗ Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1951 trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; gia đình có 03 anh, em bị cáo là con thứ ba; vợ: Hà Thị Y, sinh năm 1982 hiện trú tại thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; con: có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 8/12/2011 Đỗ Văn P bị C an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “đánh bạc”. Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Trung K - Sinh năm 1985 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: thôn S, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Trung K (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1964 trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; gia đình có 03 anh, em bị cáo là con thứ nhất; vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1991 hiện trú tại thôn S, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; con: có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

5. Họ và tên: Hà Trí C - Sinh năm 1970 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Hà Văn Đ và bà Hà Thị A (đều đã chết); gia đình có 08 anh, chị, em bị cáo là con thứ sáu; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1969 hiện trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; con: có 03 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

6. Họ và tên: Ngô Thị T3 - Sinh năm 1978 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Ngô Văn D, sinh năm 1952 và bà Đỗ Thị X, sinh năm 1950 trú tại xã L, huyện Y, tỉnh Nam Định; gia đình có 04 anh, chị, em bị cáo là con thứ ba; chồng: Hà Văn T5, sinh năm 1977 hiện trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; con: có 03 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 17/10/2017, Hà Văn T, Nguyễn Trung K rủ nhau đến nhà Ngô Thị T3 uống nước. Sau đó lần lượt có Hà Dũng T2, Đỗ Văn P đến ngồi uống nước cùng T, K. Tại đây T, K, T2, P rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền, tất cả đồng ý. T hỏi T3 mượn địa điểm đánh bạc thì được T3 đồng ý. T2 đi ra ngoài mua 01 bộ bài tú lơ khơ còn T, K, P đi lên tầng 2 vào phòng ngủ của vợ chồng T3 trải chiếu ngồi. T2 đi mua bài về đưa cho T, K, P rồi về nhà. T, K, P đánh bạc dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền, các đối tượng thống nhất mức chơi mỗi ván “góp chợ” là 10.000 đồng. Sau đó, có Hà Chí C đến nhà T3, thấy các đối tượng đang đánh bạc thì cũng xin vào chơi cùng. Lúc này T, K, P, C chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh “3 cây” được thua bằng tiền. Hình thức chơi như sau: các đối tượng dùng 36 quân bài tú lơ khơ từ A (át) đến 9 chia cho mỗi người chơi 3 quân bài, rồi cộng điểm, so sánh với người cầm chương, ai cao điểm hơn thì được tiền của người cầm chương, ai thấp điểm hơn người cầm chương thì người cầm chương được hưởng số tiền của người đó đặt cược, các đối tượng quy định số tiền đặt cửa là 50.000 đồng. Khi các đối tượng đang đánh bạc thì T2 cũng đến cùng vào tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng không phải nộp khoản tiền gì cho chủ nhà.

Đến 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi T, K, P, C, T2 đang đánh bạc thì bị Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định bắt quả tang thu giữ trên chiếu số tiền 5.050.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ (36 quân). Tạm giữ trên người Hà Trí C 01 điện thoại di động và số tiền 50.000 đồng; Đỗ Văn P 01 điện thoại di động; Hà Văn T 01 điện thoại di động; Nguyễn Trung K 01 điện thoại di động và số tiền 600.000 đồng; Hà Dũng T2 01 điện thoại di động.

Quá trình điều tra xác định ngoài số tiền 5.050.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc, Nguyễn Trung K sẽ sử dụng 600.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.650.000 đồng.

Đối với Ngô Thị T3 mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng T3 đã đồng ý để các đối tượng mượn địa điểm là nhà ở của mình để đánh bạc được thua bằng tiền. Hành vi của T3 không đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nhưng căn cứ Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi của T3 là đồng phạm về tội đánh bạc.

Đối với số tài sản đã thu giữ gồm 05 điện thoại và số tiền 50.000 đồng, xét thấy các đối tượng không sử dụng vào mục đích đánh bạc, xác định không phải là vật chứng của vụ án, cơ quan CSĐT – Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho T, T2, P, K, C là chủ sở hữu.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số 01/Ctr - VKS.HS ngày 25/12/2017 của VKSND huyện Ý Yên truy tố các bị can Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xác nhận đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 01/Ctr - VKS.HS ngày 25/12/2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của BLHS năm 1999 xử phạt Hà Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù; áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 31 của BLHS năm 1999 xử phạt Đỗ Văn P từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46 Điều 31 của BLHS năm 1999 xử phạt Hà Dũng T2 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46; Điều 31 của BLHS năm 1999 xử phạt Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; các bị cáo Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Đỗ Văn P, Hà Dũng T2 được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 36 quân; tịch thu số tiền 5.650.000đ sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo ăn năn hối hận, hứa từ nay sẽ không vi phạm nữa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, lời khai phù hợp với biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 17/10/2017 tại nhà của Ngô Thị T3 ở thôn Nguyệt Trung, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định, Ngô Thị T3 đã đồng ý để cho Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C đánh bạc trái phép tại nhà ở của mình thì bị Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo đã và sẽ sử dụng vào việc đánh bạc là 5.650.000đ. Đối với Ngô Thị T3 mặc dù không tham gia đánh bạc nhưng đồng ý cho các bị cáo mượn nhà ở của mình để đánh bạc trái phép, theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2010/HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi của Ngô Thị T3 phải chịu trách nhiệm hình sự đồng phạm về tội đánh bạc theo quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng trên địa bàn nhưng vì mục đích vụ lợi đã cố tình sát phạt, tước đoạt tiền bạc của nhau. Hội đồng xét xử thấy hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố là đúng pháp luật.

Đây là vụ án có nhiều đối tượng tham gia nhưng không phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể nên xác định là đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Bị cáo Hà Văn T là người chủ động xin chủ nhà, chuẩn bị chiếu để đánh bạc nên có vai trò cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 là những người thực hành nên có vai trò như nhau.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Ngày 22/7/2015 Hà Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “đánh bạc”; ngày 8/12/2011 Đỗ Văn P bị Công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “đánh bạc”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Các bị cáo Hà Dũng T2, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo Hà Dũng T2 có bố là người có công với Nước, bị thương binh với tỷ lệ thương tật 81% nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Hà Văn T ra khỏi môi trường xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự công cộng. Các bị cáo Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng do vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều làm ruộng, kinh tế khó khăn, gia đình đông con và còn đang trong tuổi ăn học. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 36 quân; tịch thu số tiền 5.650.000đ sung quỹ Nhà nước.(Theo biên bản lập ngày 26/12/2017 giữa Cơ quan công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và Chi cục thi hành án huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Số tài sản đã thu giữ gồm 05 điện thoại và số tiền 50.000đ, xét thấy các bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc, xác định không phải là vật chứng của vụ án cơ quan CSĐT – Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt Hà Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, ngày 17/10/2017.

Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 31 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Đỗ Văn P 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46; Khoản 2 Điều 46 Điều 31 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Hà Dũng T2 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; Áp dụng Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46; Điều 31 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ;

Các bị cáo Đỗ Văn P, Hà Dũng T2, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, mỗi bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/10/2017 đến ngày 20/10/2017 (03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Mỗi bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời gian cải tạo không giam giữ kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

Giao các bị cáo Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 36 quân; tịch thu số tiền 5.650.000đ sung quỹ Nhà nước. (Theo biên bản lập ngày 26/12/2017 giữa Cơ quan công an huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và Chi cục thi hành án huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Hà Văn T, Hà Dũng T2, Đỗ Văn P, Nguyễn Trung K, Hà Trí C, Ngô Thị T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ