vanban.org

Bản án 05/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên bố Hứa Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HS-ST
Ngày: 31 - 01 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Thùy;

Bà Đinh Thị Hồng Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Nghĩa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2018, đối với bị cáo:

Hứa Văn T, sinh ngày 25/9/1984 tại xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 9, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn M, sinh năm 1950 và bà Trần Thị P, sinh năm 1952; chưa có vợ, con;

Tiền án: Ngày 25/8/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 27/8/2017;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Ngày 17/12/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

+ Ngày 20/12/2005 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;

+ Ngày 21/01/2011 bị Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Xuân Trường; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm 7, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Trần Thị P, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm 9, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

2. Ông Ngô Xuân T; địa chỉ: Xóm 5, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 ngày 29/10/2017, Hứa Văn T đi xe đạp mini mang theo 01 con dao và 01 chiếc quần ngủ, 01 bao tải đi tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực xóm 7, xã T, huyện X phát hiện thấy cổng nhà chị Nguyễn Thị H không khóa, cửa trong nhà đóng hết, T dựng xe ở ngoài rồi cầm dao và chiếc quần ngủ đi qua cổng vào sân nhà chị H tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi vào đến khu vực chuồng gà, vịt quây bằng lưới B40, T mở cửa chuồng bắt gà cho vào ống quần ngủ mang theo rồi dùng dao cắt dây túm lại. Khi bắt được 04 con gà trống lông màu nâu đỏ thấy gà, vịt chạy sợ bị lộ nên T không bắt nữa, sau đó mang 04 con gà theo lối cũ bỏ vào giỏ xe đạp rồi đi đến xã G, huyện G tìm nơi tiêu thụ. Khi đến khu vực cầu Đõ, Xóm 5, xã T thì gặp lực lượng Công an xã T và Công an huyện Xuân Trường yêu cầu kiểm tra, T sợ nên bỏ lại 04 con gà trộm cắp được và những tài sản mang theo chạy thoát thân. Lực lượng Công an đã mời người chứng kiến, lập biên bản thu giữ những tài sản T bỏ lại gồm: 01 xe đạp mini, 01 chiếc quần ngủ màu xanh bên trong có 04 con gà trống lông màu nâu đỏ, 01 con dao, 01 bao tải và 01 đôi dép lê. Đến ngày 16/11/2017, Hứa Văn T đã ra đầu thú tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Hứa Văn T đã thừa nhận thực hiện hành vi như trên.

Người bị hại chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại cơ quan điều tra chị H khai đã nhận lại toàn bộ 04 con gà bị mất trộm, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL- HĐĐG ngày 31/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường kết luận: 04 con gà trống của chị Nguyễn Thị H bị trộm cắp có tổng trọng lượng là 12 kg, tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

Bản cáo trạng số 01/CT - KSĐT ngày 10/01/2018 của VKSND huyện Xuân Trường truy tố Hứa Văn T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Hứa Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe đạp mini của bị cáo và tịch thu cho tiêu hủy 01 chiếc quần ngủ, 01 con dao, 01 bao tải, 01 đôi dép lê của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội, hứa sửa chữa lỗi lầm, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng trên nên đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/10/2017 tại Xóm 7, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định, Hứa Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 04 con gà trống của chị Nguyễn Thị H có tổng trọng lượng 12 kg trị giá 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tuy giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 02 triệu đồng nhưng bị cáo đang có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 48/2016/HSST ngày 25/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định chưa được xóa án tích. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý bất an cho nhân dân tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án phạt tù phải chấp hành án tại trại cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân, sau khi ra tù được thời gian ngắn lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật nên phải bị xử lý nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nhưng tình tiết này đã được xác định là tình tiết định tội nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm nữa, ngoài ra bị cáo không còn tình tiết tăng nặng nào.

Bị cáo đã tự giác ra đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét hoàn cảnh bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng, kinh tế gia đình khó khăn nên không cần thiết phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị H đã nhận lại nguyên vẹn tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ của bị cáo gồm 01 xe đạp mini là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc quần ngủ, 01 đôi dép lê, 01 con dao và 01 vỏ bao tải là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí: Bị cáo Hứa Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố Hứa Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”;

2. Xử phạt Hứa Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 16 tháng 11 năm 2017).

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe đạp mini của Hứa Văn T;

Tịch thu cho tiêu hủy 01 chiếc quần ngủ, 01 con dao, 01 bao tải, 01 đôi dép lê của Hứa Văn T;

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao vật chứng, tài sản số 17/CCTHA lập ngày 18/01/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

4. Về án phí: Bị cáo Hứa Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ