vanban.org

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị M và anh Lê Văn C.

Về nuôi con chung: giao cho chị Võ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2015. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C do chị M chưa có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị M và anh C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị M và anh Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 17/5/2018
V/v: Ly hôn, tranh chÊp nu«i con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Phan Quang Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vi Văn Tiệp

2. Ông Phan Văn Hiển

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - cán bộ TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Võ Thị M, sinh năm 1997 (có mặt) Nơi ĐKHKTT: Xóm 5B - xã Nghĩa M - huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An.

- Bị đơn: anh Lê Văn C, sinh năm 1996 (có đơn xin xử vắng mặt)

Trú tại: Xóm 5B - xã Nghĩa M - huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 21 tháng 02 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Võ Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Lê Văn C về sống chung với nhau từ năm 2015 do chưa đủ tuổi kết hôn nên đến ngày 02 tháng 3 năm 2016 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa M, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, vợ chồng cùng nhau đi làm ăn tại tỉnh Bình Dương. Sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh C đã có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác vì vậy từ tháng 01 năm 2018 chị đã bế con về sống cùng bố mẹ đẻ tại Diễn Cát, Diễn Châu, Nghệ An. Nay chị không còn tình cảm với anh C nữa và mong muốn được ly hôn.

Về quan hệ nuôi con chung: chị và anh C có 01 con chung là Lê Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2015. Hiện nay cháu Tr đang ở với chị. Nếu ly hôn chị M yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Tr và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh C cũng chưa có việc làm ổn định, khi nào anh C có công việc ổn định chị sẽ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau.

Về quan hệ tài sản: Giữa chị và anh C chưa tạo lập được tài sản gì có giá trị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Lê Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án anh đã làm bản tự khai và gửi về Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, xin được vắng mặt tại các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa do điều kiện đi làm ăn xa, không thể về tham gia giải quyết vụ án được, anh C trình bày: về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn đúng như chị M trình bày là hai người tự do tìm hiểu và đi đến kết hôn vào ngày 02 tháng 3 năm 2016 tại UBND xã Nghĩa M, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Qúa trình chung sống theo anh C là vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nay chị M làm đơn ly hôn anh đồng ý.

Về con cái: vợ chồng có 01 con chung là Lê Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2015. Hiện nay cháu Tr đang ở với chị M. Nếu ly hôn anh C đồng ý để chị M nuôi con. Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung thì anh đề nghị hoãn cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh đang gặp khó khăn về kinh tế, lúc nào có điều kiện anh sẽ tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị M.

Về tài sản: anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Qúa trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là cho chị Võ Thị M được ly hôn với anh Lê Văn C. Giao cháu Lê Thanh Tr cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C vì chị Mai chưa yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Võ Thị M và anh Lê Văn C là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Chị M và anh C chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau khi kết hôn thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Theo xác nhận của Hội liên hiệp phụ nữ xã Nghĩa M, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An thì nguyên nhân là do anh C đã có người phụ nữ khác, lơ là chăm lo đến con cái. Hiện nay chị M đã bỏ về bên ngoại sinh sống, không còn quan tâm đến nhau và không có ý thức xây dựng cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn như vậy là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị M là cho chị Mai được ly hôn anh C.

Về nuôi con chung: Chị M và anh C có 01 con chung là cháu Lê Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2015. Hiện nay cháu Tr đang ở với chị M, được gia đình bên ngoại và chị M quan tâm và chăm sóc tốt cả về vật chất lẫn tinh thần. Do vậy giao cháu Tr cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị M không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con do chị M thấy anh C đang gặp khó khăn về kinh tế. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị M.

Về chia tài sản chung: chị M và anh C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: áp dụng điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc các đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, các Điều 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 1 điều 51, điều 56, điều 58 Luật hôn nhân và gia đình xử:

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị M và anh Lê Văn C.

2. Về nuôi con chung: giao cho chị Võ Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Thanh Tr, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2015.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C do chị M chưa có yêu cầu.

Anh C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: chị Võ Thị M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001034 ngày 21 tháng 02 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ