- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H với Công ty TNHH MTV T"
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 305 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2017/KDTM-PT Ngày: 19/7/2017 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu
Các thẩm phán:
Bà Đặng Thị Thảo
Bà Mai Thị Minh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký TAND tinh Nam Đi ̣̉
nh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định:
Bà Lưu Thị Nga - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2017/TLPT-KDTM ngày 03 tháng 05 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 30/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2017/QĐ-PT ngày 09 tháng 06 năm 2017 giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần đầu tư và phát triểu kim khí H
Đi ̣a chỉ: Số 52 đường H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng.
Ngườ i đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Thành Đ - Chủ tịch HĐQT.
Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp của nguyên đơn:
́
Ông Vũ Hồng T , Luâ ̣t sư - Văn Phòng luâ ̣t sư L thuô ̣c Đoàn luâ ̣t sư thành phố Hải Phòng.
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T
Địa chỉ: Số 383 đườ ng H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị T - Giám Đốc công ty.
3. Người kháng cáo:
Ông Lưu Thành Đ là người đại diện theo pháp luật củaCông ty cổ phần đầu tư và phát triểu kim khí H.
Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Đ, Luâ ̣t sư T, bà T có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2016 và quá trình tố tụng tại Tòa án
nguyên đơn là Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H trình bày:
Tháng 5/2008 Chi nhánh 1-Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H (Sau đây viết tắt là Công ty H ) và Công ty trách nhiệm hữu hạn mô ̣t thành viên T (Sau đây viết tắt là Công ty T) ký kết hợp đồng bằng lời nói mua bán hàng hóa là thép tấm, thép xây dựng, hai bên cam kết giao hàng đến đâu, thanh toán đến đó, theo số lượng hàng hóa thực tế, nếu chậm thanh toán thì phải chịu lãi suất 1,5%/tháng.
Thực hiện hợp đồng, Công ty H giao cho Công ty T hàng hóa với tổng giá trị là 528.932.063đ. Công ty T đã thanh toán là 439.118.940đ. Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 04/11/2015 tính đến ngày 31/10/2015 Công ty T còn nợ tiền gốc 89.813.123đ và lãi suất do chậm thanh toán là
123.962.057đ, tổng là 213.775.180đ.
Tại buổi làm việc ngày 19/11/2015 Công ty T và Công ty H cam kết Công ty T trả cho Công ty H 100.000.000đ trướ c ngày 25/10/2015 âm li ̣ch và trả 50% tiền lãi suất phát sinh do chậm thanh toán là 56.887.000đ trong thời hạn từ tháng 2/2016 đến tháng 7/2016. Nếu thực hiện cả 2 nội dung trên Công ty H sẽ miễn một nửa số tiền lãi còn la ̣i.
Ngày 30/11/2015 Công ty T trả cho Công ty H 100.000.000đ trong đó tiền gốc là 89.813.123đ, tiền lãi là 10.186.877đ. Sau đó , Công ty T không thực hiê ̣n đúng cam kết, nên Công ty H khởi kiện yêu cầu Công ty T phải trả toàn bộ số tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán tiền hàng là 113.744.000đ và phải trả lãi phát sinh do chậm thanh toán số tiền là 113.744.000đ kể từ ngày 01/8/2016 đến nay vớ i mứ c lai suẫ
́t là 1,5%/tháng.
Tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn là Công ty T trình bày:
Giữa Công ty T và Công ty H ký hợp đồng mua bán hàng hóa bằng lời nói là tôn đóng tàu từ nhiều năm trước, các lô hàng đã được thanh toán đầy đủ . Đến lô hàng cuối cùng vào năm 2008 thì Công ty T còn nợ tiền gốc 99.813.123 đồng. Ngày 26/8/2015 trả gốc 10.000.000đ còn la ̣i tiền gốc là 89.813.123đ.
Ngày 19/11/2015 hai Công ty có thỏa thuận giảm 50% tổng số tiền lai vã ̀ thờ i hạn trả nợ như nội dung trinh bầy của nguyên đơn . Ngày 30/11/2015 Công
̀ ty T trả 100.000.000đ trong đó tiền gốc là 89.813.123đ và mô ̣t phần tiền lai. Saũ đó, do Công ty T gă ̣p khó khăn, phải huy động nguồn tiền để trả nốt khoản tiền còn lại thì ông Lưu Thành Đ gọi điện nói những lời lẽ xúc phạm. Vì vậy, bà yêu cầu ông Đ xin lỗi, rút đơn khởi kiện thi bà se thanh toán nốt số tiền 56.000.000đ̃
̀
theo thỏa thuận ta ̣i biên bản làm việc ngày 19/11/2015. Nhưng sau đó , bà T thay đổi quan điểm sẽ trả cho Công ty H số tiền 56.887.000đ, nhưng mỗi tháng chỉ trả 2.000.000đ cho đến khi trả hết số tiền trên.
Tại bản án số 03/2017/KDTM-ST ngày 30/3/2017 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định đã tuyên: Áp dụng Điều 389, khoản 1 Điều 401, Điều 402, khoản 1, 2 Điều 438 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005, Điều 306 Luâ ̣t thương ma ̣i năm 2005. Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu ha ̣n mô ̣t thành viên T phải trả cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H số tiền lãi do châ ̣m thanh toán tiền hàng theo biên bản thỏa thuâ ̣n là 113.744.000 đồng (Mô ̣t trăm mườ i ba triê ̣u bẩy trăm bốn mươi bốn nghin đồng ). Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H
̀ được nhâ ̣n số tiền do Công ty trách nhiệm hữ u ha ̣n mô ̣t thành viên T trả là 113.744.000 đồng (Mô ̣t trăm mườ i ba triê ̣u bẩy trăm bốn mươi bốn nghin đồng).
̀ Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí , lãi suất do chậm thi hành bản án và quyền kháng cáo của đương sự.
Tại quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 02/2017/QĐ-BSBA ngày 20/4/2017 đối vớ i bản án số 03/2017/KDTM-ST ngày 30 tháng 3 năm 2017 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định như sau: Tiếp sau dòng thứ hai trang thứ 5 từ trên xuống của bản án sơ thẩm. Nay được bổ sung: “Chấp nhận rút một phần yêu cầu của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H về đòi tiền lãi 1,5%/tháng tính từ tháng 8/2015 đến nay”.
Ngày 10/4/2017 Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí Hải Phòng kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 30/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định vớ i nô ̣i dung:
Buộc Công ty TNHH MTV T phải trả số tiền nợ là 113.744.000đ và số tiền lãi do chậm trả số tiền 113.744.000đ vớ i mứ c lai suẫ
́t 1,5%/tháng tính từ ngày 01/11/2015 đến khi trả hết nợ (được quy đi ̣nh ta ̣i Điều 468 BLDS năm 2015), theo đúng cam kết mà Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T ký ngày 19/11/2015. Vớ i lý do, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n cũng như các ý kiến bổ sung nhưng án sơ thẩm la ̣i cho rằng nguyên đơn tự nguyê ̣n rút yêu cầu thanh toán lãi suất phát sinh do châ ̣m thanh toán 113.744.000đ là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên đơn khở i kiê ̣n và đơn
kháng cáo, có thay đổi về thời gian tính lãi suất từ ngày 01/11/2015 đế ngày xét xử phúc thẩm.
Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp của nguyên đơn trinh bày:
́
̀
Đề nghi ̣ HĐXX phúc thẩm chấp nhâ ̣n đơn kháng cáo của nguyên đơn
, buô ̣c Công ty T phải thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền lãi với mức lãi suất 1,5%/tháng đối với số tiền 113.744.000đ kể từ ngày 01/11/2015 đến ngày xét xử phúc thẩm.
Công ty T trình bày: Ngày 19/11/2015 Công ty T và Công ty H chốt nợ xác nhận Công ty T còn nợ là 213.775.000đ. Ngày 30/11/2015 Công ty T trả cho Công ty H 100.000.000đ bao gồm trả hết nợ gốc và mô ̣t phần nợ lãi. Số tiền 113.744.000đ Công ty T còn nợ là khoản tiền lãi do châ ̣m thanh toán tiền hàng, Công ty T nhất tri trả cho Công ty H nhưng hiê ̣n ta ̣i Công ty đang gă ̣p
́ khó khăn chỉ trả cho nguyên đơn 2.000.000đ/tháng. Đối với khoản tiền lãi của số tiền 113.744.000đ Công ty không trả vì lãi chồng lãi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Tại phiên tòa sơ thẩm, Công ty H đa rũ ́t yêu cầu buô ̣c Công ty T phải trả lãi của số tiền 113.744.000đ vớ i mứ c lai suẫ
́t 1,5%/tháng. Nay Công ty H kháng cáo cho rằng không rút yêu cầu này Công ty T không chấp nhâ ̣n.
Kiểm sát viên-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về tố tu ̣ng cấp sơ thẩm đa vi pha ̣̃
m thờ i ha ̣n xét xử quá 15 ngày quy định tại Điều 203 BLTTDS, vi pha ̣m về viê ̣c sử a chữa bổ sung bản án , vi pha ̣m về viê ̣c châ ̣m giao bản án cho đương sự quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 269 BLTTDS nên kiến nghi ̣, rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm. Về đườ ng lối giải quyết vu ̣ án, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đa tự̃ nguyê ̣n rút yêu cầu trả lãi suất do châ ̣m thanh toán số tiền 113.744.000đ vớ i mứ c lai suẫ
́t 1,5%/ tháng, viê ̣c rút yêu cầu này được thể hiện tại biên bản phiên tòa và biên bản nghi ̣ án
. Do vâ ̣y , căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhâ ̣n kháng cáo của nguyên đơn , giữ nguyên án sơ thẩm . Về án phi giải quyết theo pháp luâ ̣t.
́
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét kháng cáo của Công ty cổ phần đầu tư và phát triểu kim khí H thấy rằng:
Tháng 5/2008 Chi nhánh 1- Công ty cổ phần đầu tư và phát triểu kim khí H (Công ty H) và Công ty trách nhiê ̣m hữu ha ̣n mô ̣t thành viên T (Công ty T) ký kết hợp đồng bằng lời nói mua bán thép tấm , thép xây dựng , quá trình thực hiê ̣n hợp đồng Công ty H đa bã ́n ch o Công ty T giá trị hàng hóa là 528.932.063đ (đa bao gỗ
̀m thuế giá tri ̣ gia tăng ). Công ty T đã thanh toán là 439.118.940đ. Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 04/11/2015 tính đến ngày 31/10/2015 Công ty T còn nợ gốc 89.813.123đ và nợ tiền lãi suất chậm trả là 123.962.057đ. Tổng là 213.775.180đ.
Ngày 30/11/2015 Công ty T thanh toán cho Công ty H 100.000.000đ. Theo đơn khở i kiê ̣n bút lục số 2, trong 100.000.000đ này Công ty T đa trả tiền nợ̃
gốc là 89.813.123đ, trả nợ lãi suất do chậm thanh toán tiền hàng là 10.186.877đ. Trong quá trinh giải quyết vu ̣ án và t ại phiên tòa phúc thẩm Công ty T trình bày
̀ trong 100.000.000đ trả cho Công ty H vào ngày 30/11/2015 Công ty T đa trã ̉ hết nợ gốc và trả mô ̣t phần nợ lai. Như vâ ̣̃
y, tính đến ngày 30/11/2015 thì Công ty T đa thanh toã
́n xong khoản tiền hàng đối vớ i Công ty H (tiền gốc). Công ty T còn nợ Công ty H là 113.744.000đ đây là số tiền lai do châ ̣̃
m thanh toán tiền gốc. Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty T xác nhận còn nợ 113.744.000đ.
Theo biên bản phiên tòa sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Nam Đi ̣nh ngày 30/3/2017 phản ánh tại phiên tòa sơ thẩm Công ty H đa tự̃ nguyê ̣n rút yêu cầu buô ̣c Công ty T trả khoản tiền lãi do chậm thanh toán số tiền 113.744.000đ vớ i mứ c lai suẫ
́t 1,5%/tháng, viê ̣c rút yêu cầu này cũng được thể hiê ̣n ta ̣i biên bản nghị án của Hội đồng xét xử . Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không đưa ra tài liê ̣u chứ ng cứ chứ ng minh cho yêu cầu kháng cáo của minh . Do vâ ̣y,
̀ không có căn cứ chấp nhâ ̣n kháng cáo của nguyên đơn
. Mă ̣t khác , ngày 30/11/2015 Công ty T đa thanh toã
́n xong khoản tiền nợ gốc, chỉ còn nợ tiền lãi do châ ̣m thanh toán tiền gốc là 113.744.000đ. Theo quy đi ̣nh tại Điều 316 Luâ ̣t thương ma ̣i năm 2005 tiền lai do châ ̣̃
m thanh toán chỉ được tính trên nợ gốc . Vì vâ ̣y, nguyên đơn yêu cầu bi ̣ đơn phải trả lai đỗ
́i vớ i khoản tiền lãi mứ c lãi suất 1,5%/tháng không được chấp nhận.
Hợp đồng mua bán hà ng hóa giữa các bên phát sinh từ tháng 5/2008 trướ c khi Bô ̣ luâ ̣t dân sự (BLDS) năm 2015 có hiệu lực pháp luật , đối chiếu quy đi ̣nh về nghia vu ̣̃
thanh toán lai suẫ
́t do châ ̣m thực nghia vu ̣ giữ
̃a BLDS năm 2015 và BLDS năm 2005 có sự khác nhau . Do vâ ̣y, căn cứ điều khoản chuyển tiếp quy đi ̣nh ta ̣i Điều 688 BLDS năm 2015 để giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn tự nguyê ̣n rút mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n nhưng tại quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 02/2017/QĐ-BSBA ngày 20/4/2017 cấp sơ thẩm không tuyên đinh chi xét xử viê ̣c rút mô ̣t
̀
̉ phần yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn mà tuyên chấp nhâ ̣n rút mô ̣t phần yêu cầu của nguyên đơn về đòi tiền lai 1,5%/tháng là chưa phũ
̀ hợp vớ i khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015. Do vâ ̣y, HĐXX sử a lại cho phù hợp vớ i quy đi ̣nh của pháp luật và rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm . Đồng thời rút kinh nghiệm vớ i cấp sơ thẩm về viê ̣c giao bản án cho đương sự và thời hạn chuẩn bị xét xử như ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu ta ̣i phiên tòa.
Do sử a bản án sơ thẩm nên Công ty H không phải nô ̣p án phi kinh doanh
́ thương ma ̣i phúc thẩm , hoàn lại cho Công ty H số tiền đa nô ̣̃ p ta ̣m ứ ng án phi
́ kinh doanh thương ma ̣i phúc thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Đi ̣nh.
Quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các phân tích trên;
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
Áp dụng Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luâ ̣t thương ma ̣i năm 2005, Điều 4, khoản 2 Điều 305 BLDS năm 2005. Căn cứ khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhâ ̣n kháng cáo của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H. Sử a bản á n sơ thẩm về quyết định sửa chữa, bổ sung bản án số 02/2017/QĐ-BSBA ngày 20/4/2017 đối vớ i bản án số 03/2017/KDTM-ST ngày 30 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
1. Đình chỉ xét xử mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H về viê ̣c buô ̣c Công ty trách nhiệm hữu hạn mô ̣t thành viên T phải trả tiền lãi phát sinh do ch ậm thanh toán số tiền 113.744.000đ vớ i mứ c lai suẫ
́t 1,5%/tháng kể từ ngày 01/11/2015 đến khi xét xử phúc thẩm.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H;
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn mô ̣t thành viên T phải trả cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H số tiền lãi do châ ̣m thanh toán tiền hàng là 113.744.000 đồng (Mô ̣t trăm mườ i ba triê ̣u bẩy trăm bốn mươi bốn nghin
̀ đồng).
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H được nhâ ̣n số tiền do Công ty trách nhiệm hữu hạn mô ̣t thành viên T trả là 113.744.000 đồng (Mô ̣t trăm mườ i ba triê ̣u bẩy trăm bốn mươi bốn nghin đồng).
̀
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngườ i được thi hành án cho đế n khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền , hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nướ c quy đi ̣nh tương ứ ng vớ i thờ i gian chưa thi hành án.
3. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm : Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H không phải nô ̣p hoàn la ̣i cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H số tiền ta ̣m ứ ng án phi kinh doanh thương mại phúc thẩm
́
đa nô ̣̃ p là 2.000.000đ theo biên lai số 03486 ngày 11/11/2016 của Chi cục T hi hành án dân sự thành phố Nam Định.
4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn mô ̣t thành viên T phải nộp 5.687.200 đồng.
Hoàn lại cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển kim khí H 2.800.000đ tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương ma ̣i sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 03157 ngày 12/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nam Định; - TAND TP Nam Định; - VKSNDTP Nam Đinh; - Chi cục THADSTP Nam Định; - Các đương sự; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Thu |