- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hiếu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hiếu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 23-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA U BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ – Giáo viên hưu trí.
Ông Nguyễn Long Giang – UBND xã Tân Hưng, huyện Bàu Bàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Duy Tôn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hiếu T, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và bà Nguyễn Thị B; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/09/2023 bị Công an huyện B, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính với số tiền 1.750.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17 tháng 7 năm 2023 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hiếu T: Ông Cao Ngọc L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Hiếu T1, sinh năm 2005, nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Anh Hà Hồng C, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi của bị cáo:
Nguyễn Hiếu T và Nguyễn Hiếu T1 là anh em ruột với nhau. T với Hà Hồng C và Chiêu Thành L1 là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 17 giờ ngày 17/07/2023, Nguyễn Hiếu T có ý định sử dụng ma tuý nên T qua nhà rủ L1 đi mua ma túy về sử dụng với mình, L1 không đi và nói T khi nào mua ma túy xong thì ghé đón L1 về nhà. T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) mượn của thanh niên tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ) đi đến khu vực gần Trung tâm y tế thị xã B, Bình Dương gặp người thanh niên tên T3 (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua 200.000 đồng ma túy dạng đá, rồi ghé đón L1 về nhà T ở ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ có sẵn của T để sử dụng ma túy, phần ma túy còn lại T cất giấu trong lỗ gạch tường sau nhà bếp. Lúc này L1 đi vệ sinh nên chưa sử dụng ma tuý, T gọi anh ruột là Nguyễn Hiếu T1 ở phòng kế bên qua sử dụng ma tuý cùng T. Khi sử dụng ma túy xong thì T1 đi ra ngoài để mua đồ uống, T lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 màu xanh đen của T1 để nhắn tin rủ Hà Hồng C qua nhà T sử dụng ma túy. Khoảng 15 phút sau, C đến nhà T sử dụng số ma túy T để sẵn, sau khi C sử dụng ma túy, T nói C góp 50.000 đồng phụ tiền mua ma túy, C không đồng ý nên về. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an xã L thấy dấu hiệu nghi vấn nên kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang. Nguyễn Hiếu T thừa nhận 01 đoạn nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng cất giấu bên trong lỗ gạch tường sau nhà bếp là của T mua về tổ chức sử dụng ma túy còn lại.
Đối với Nguyễn Hiếu T1 và Hà Hồng C thừa nhận có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 97, 98 ngày 28/09/2023 với số tiền 750.000 đồng đối với T1 và số tiền 1.500.000 đồng đối với C. Đối với đối tượng tên T3 bán ma túy cho T (không rõ họ tên, địa chỉ) và đối tượng cho T mượn 01 xe mô tô (không rõ họ tên, địa chỉ) hiện Cơ quan Công an huyện B đang xác minh làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hiếu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gi về hành vi phạm tội của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Hiếu T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về các vấn đề khác của vụ án:
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 gói nilon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M1); 01 bộ dụng cụ tự chế gồm chai nhựa có nắp đục lỗ gắn một ống hút màu xanh và một ống hút màu hồng trên đầu có ống thủy tinh (nỏ), bên trong ống thủy tinh còn bám chất tinh thể màu trắng đục ngà đen; 01 điện thoại hiệu Vivo 1906 màu xanh đen, số IMEI1: 868613043225912, số ΙΜΕΙ2: 8613043225904 theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 17-7-2023.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả 01 điện thoại hiệu Vivo 1906 màu xanh đen, số IMEI1: 868613043225912, số ΙΜΕΙ2: 8613043225904 cho Nguyễn Hiếu T1 theo biên bản trả lại tài sản ngày 28-7-2023.
Theo Kết luận giám định số 431/KL-KTHS (MT) ngày 21 tháng 7 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine có khối lượng/ trọng lượng: 0,0846 gam (M1). Chất bám dính trong 01 (một) nỏ thủy tinh rỗng ruột không xác định được khối lượng/ trọng lượng (M2) gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gi về các vấn đề trên.
- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 108/CT-VKSNDBB ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hiếu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về mức hình phạt: Áp dụng theo điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu T mức án từ: 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
+ Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Đối với 0,0624 gam (M1) ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định, là vật chứng của vụ án và là chất mà nhà nước cấm tàng trữ mua bán, lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy. Đối với vật chứng bao gồm: 01 chai nhựa nắp màu trắng trên nắp có 02 đoạ ống hút nhựa trong đó có 01 ống hút nhựa có nối với 01 nó thủy tinh rỗng ruột là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hiếu T trình bày tranh luận: Thống nhất với quan điểm của Việt kiểm sát, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Người bào chữa thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, ngoài ra bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi khi nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo khung hình phạt thấp nhất hoặc có thể mức hình phạt thấp hơn mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Bị cáo không có tranh luận bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố, không có ý kiến gì khác.
Bị cáo trình bày lời sau cùng: bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hiếu T đã khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Hiếu T đã có hành vi cung cấp ma tuý (mua 200.000 đồng cùng ngày), chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý, địa điểm và rủ rê tổ chức sử dụng ma tuý cho T cùng các con nghiện là Nguyễn Hiếu T1 (thời điểm này Nguyễn Hiếu T1, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2005, chưa đủ 18 tuổi) và Hà Hồng C thì bị bắt quả tang. Số ma túy bị thu giữ trong nỏ thuỷ tinh là loại Methamphetamine và 0,0846 gam loại Methamphetamine. Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Hiếu T đã vi phạm các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Hiếu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là mầm móng phát sinh các tệ nạn xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn huyện B, tỉnh . Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: ngày 28/09/2023 bị cáo bị Công an huyện B, tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính với số tiền 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình pha t đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: số ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là: 0,0624 gam (M1) là vật chứng cấm lưu hành, tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy và 01 chai nhựa nắp màu trắng trên nắp có 02 đoạn ống hút nhựa trong đó có 01 ống hút nhựa có nối với 01 nỏ thủy tinh rỗng ruột là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 0,0846 gam ma tuý mà T cất giấu sau nhà không đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Hiếu T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đối với hành vi của Nguyễn Hiếu T1, Hà Hồng C có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Đối với hành vi của các đối tượng bán ma túy cho bị cáo, hiện Công an huyện B đang xác định lai lịch, nhân thân tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: bị cáo Nguyễn Hiếu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, Mục 1, Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hiếu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu T: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 7 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
- 0,0624 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 bì thư niêm phong số 431/PC09 M1.
- 01 chai nhựa nắp màu trắng trên nắp có 02 đoạ ống hút nhựa trong đó có 01 ống hút nhựa có nối với 01 nỏ thủy tinh rỗng ruột được niêm phong trong 01 hộp giấy niêm phong số 431/PC09 M2.
(Theo iên ản về việc giao nh n v t ch ng, tài sản cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện àu àng ngày 27 tháng 10 năm 2023).
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Hiếu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án DS huyện Bàu Bàng; - Bị cáo; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có); - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Dũng |