vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị My L phạm tội “Làm nhục người khác”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ũ Thị Mỹ Linh bị truy tố tội làm nhục người khác - Bị truy tố tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thị My L phạm tội “Làm nhục người khác”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 17/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỵ Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nay – Cán bộ hưu trí huyện V.

2. Bà Trần Thị Phương Anh – Cán bộ Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện V.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân HUYỆN v, TỈNH B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN v, TỈNH B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân HUYỆN v, TỈNH B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST – HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Thị My L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1996, tại S. Nơi cư trú: Ấp Mỹ L 1, xã Mỹ B, thị xã Ngã N, tỉnh S. Nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn L và bà Nguyễn Thị Hồng K; có chồng tên Lê Chí L (đã ly hôn ngày 27/12/2021) và 01 người con Lê Thanh T, sinh năm 2016; anh chị em ruột có 01 người, Vũ Vương L sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại. (Có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Diệu T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp V, xã Vĩnh Phú Đ, huyện P, tỉnh B

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Diệu T: Bà Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1987, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Lương Thị Mộng M thuộc đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ liên hệ: Ấp Mỹ T, xã Vĩnh Phú Đ, huyện P, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10 năm 2021, giữa ông Lê Chí L và bà Nguyễn Diệu T liên lạc qua lại bằng điện thoại và nảy sinh tình cảm nam nữ. Khoảng 10 ngày sau, ông L và bà T vào nhà nghỉ trên địa bàn thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh B quan hệ tình dục, ông L đưa bà T số tiền 4.000.000 đồng để duy trì mối quan hệ. Nguồn gốc số tiền trên là tài sản chung của vợ chồng ông Lê Chí L. Khoảng hơn 11 giờ ngày 13/11/2021, ông L và bà T đến nhà nghỉ trên để quan hệ tình dục. Tại đây, ông L dùng điện thoại di động của mình quay lại một đoạn video hình ảnh bà T không mặc quần áo, cầm khăn tắm đi ra từ nhà vệ sinh, thời lượng hình ảnh 04 giây, mục đích để đùa giỡn. Một lúc sau, bà T lấy điện thoại của ông L xóa đoạn video trên.

Sáng ngày 16/11/2021, bị cáo Vũ Thị My L (vợ ông Lê Chí L) ngụ tại ấp Trung H, xã V, HUYỆN v, TỈNH B lấy điện thoại di động của ông L kiểm tra và phát hiện đoạn video hình ảnh của bà T. Lúc này, bị cáo L đem điện thoại di động của ông L qua nhà bạn là Nguyễn Thị Thùy Dương đưa cho Dương xem đoạn video và gửi qua điện thoại di động của Dương. Tiếp đó, bị cáo L nhờ Dương gửi đoạn video lại điện thoại di động của bị cáo L. Sau đó, bị cáo L gửi đoạn video trên vào điện thoại di động của Nguyễn Diệu T với mục đích là bị cáo L đã biết mối quan hệ bất chính giữa bà T và ông L. Đến khoảng 01 giờ sau, không thấy bà T trả lời, bị cáo L đăng tải đoạn video clip hình ảnh khỏa thân của bà T lên mạng xã Facebook bằng tài khoản cá nhân tên “Mỹ Linh”, kèm theo lời lẽ xúc phạm bà T. Mục đích bị cáo L đăng đoạn video nhằm khẳng định với bà T và mọi người là bị cáo L đã phát hiện bà T và ông L có quan hệ bất chính, để bạn bè và người quen của bị cáo L cảnh giác với bà T, đồng thời làm bà T cảm thấy xấu hổ. Sau khi đăng tải đoạn video, bị cáo L tiếp tục dùng tài khoản Facebook “Mỹ Linh” đăng tải nhiều bài viết đính kèm hình ảnh với nội dung xúc phạm, tố cáo bà T giật chồng. Một lúc sau, bà T liên lạc với bị cáo L yêu cầu gỡ đoạn video, hình ảnh trên facebook nhưng bị cáo L không đồng ý. Trong quá trình trao đổi, bị cáo L yêu cầu bà T chuyển khoản trả cho bị cáo L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), vì bị cáo L cho rằng đây là số tiền ông Lê Chí L cho bà T. Ngày 17/11/2021, do nick Facebook cũ bị khóa, bị cáo Vũ Thị My L tạo nick Facebook mới tên “Mỹ Linh” và tiếp tục chia sẻ bài viết đã đăng trước đó với lời lẽ xúc phạm bà T.

Ngày 02/12/2021, bà Nguyễn Diệu T có đơn yêu cầu khởi tố Vũ Thị My L với các tội danh “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 170, tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại Khoản 2 Điều 155, tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 326 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Diệu T giao nộp: 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB), bên trong chứa 01 (một) file dữ liệu video quay lại cảnh bà T không mặc quần áo, bà T trình bày nguồn gốc đoạn video trên do bà tải từ trang Facebook của Vũ Thị My L. Cơ quan điều tra tiến hành tiếp nhận và niêm phong thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB) và 45 (bốn mươi lăm) hình ảnh bà T chụp màn hình điện thoại những nội dung bài đăng, bình luận, tin nhắn có liên quan đến vụ việc. Các dữ liệu điện tử và 45 hình ảnh nói trên đã được ông Lê Chí L và Vũ Thị My L trực tiếp xem và xác định: đoạn video trên là do ông Chí Linh dùng điện thoại di động của mình quay lại vào ngày 13/11/2021, khi ông L và bà T ở trong phòng nhà nghỉ; Vũ Thị My L đã đăng tải đoạn video khỏa thân không mặc quần áo của bà T lên mạng xã hội Facebook.

- Ngày 21/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số: 09/QĐ-CQĐT-ĐTTH trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) giám định Kỹ thuật số - Điện tử.

Tại Kết luận giám định số: 1257/KL-KTHS ngày 13/4/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) kết luận: Tập tin video gửi giám định ký hiệu A có kích thước: 660 kb (kilobyte), thời lượng: 04 giây. Không phát hiện dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung trong tập tin video gửi giám định; Hình ảnh người xuất hiện trong tập tin video gửi giám định ký hiệu A so với hình ảnh Nguyễn Diệu T trong bản ảnh mẫu so sánh ký hiệu M là hình ảnh của cùng một người.

- Ngày 22/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số: 26/QĐ-CQĐT-ĐTTH trưng cầu Sở văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch tỉnh B giám định Dữ liệu số (Video, hình ảnh).

Tại Kết luận giám định tư pháp số: 01/KLGĐ ngày 26/4/2022 của Sở văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch tỉnh B kết luận:

Qua giám định nội dung của 01 File video trong 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB) có nội dung thể hiện cảnh một người phụ nữ không mặc quần áo đi ra từ phòng tắm. Căn cứ vào khoản 4 và khoản 5, Điều 3 của Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm. Đối chiếu quy định tại các Điều 16 và Điều 26 của Pháp lệnh, khẳng định: 01 (một) file video trong 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB) có chứa nội dung như trên là trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống đạo đức của người Việt Nam.

Ngoài ra, căn cứ khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013; Điều 32, khoản 1 Điều 34, khoản 1 và khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng năm 2018; điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ. Tổ Thẩm định tư pháp về văn hóa kết luận: việc đăng tải tập tin video trên lên mạng xã hội Facebook, đưa hình ảnh trái với thuần phong mỹ tục và truyền thống đạo đức của người Việt Nam có xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của Nguyễn Diệu T.

Tại Bản Cáo trạng số 30/CT - VKS ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN v, TỈNH B đã truy tố các bị cáo Vũ Thị My L về tội: “Làm nhục người khác”. Theo điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN v, TỈNH B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Thị My L theo nội dung Cáo trạng số 30/CT - VKS ngày 14 tháng 10 năm 2022 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Vũ Thị My L phạm tội “Làm nhục người khác”.

- Về hình sự: Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên phạt bị cáo từ 04 tháng đến 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm đến 01 năm 02 tháng.

- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB), nhãn hiệu Kingston ®, bằng kim loại, màu trắng, dung lượng 4GB, một đầu có một lỗ tròn đang được quản lý theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Diệu T yêu cầu Vũ Thị My L bồi thường thiệt hại số tiền 41.500.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra, Vũ Thị My L đã nộp bồi thường thiệt hại (nộp tại Chi cục thi hành án dân sự) số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Chấp nhận một phần về trách nhiệm dân sự của bà Nguyễn Diệu T đối với bị cáo Vũ Thị My L, số tiền là 7.450.000 đồng. Đối trừ số tiền bị cáo bồi thường thiệt hại dự nộp tại chi cục thi hành án dân sự 1.500.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu thu nhập bị mất, chi phí đi lại, chi phí photocopy tài liệu do chị T không có chứng cứ chứng minh.

Về án phí: Bị cáo Vũ Thị My L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố hình sự, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, chị T yêu cầu bị cáo L bồi thường thiệt hại số tiền 41.500.000 đồng.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Diệu T là bà Trương Thị Mỹ L phát biểu ý kiến tranh luận.

Về tội danh: Luật sư thống nhất tội danh “ làm nhục người khác” mà Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố. Không thống nhất việc Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử án treo đối với bị cáo L. Trong quá trình điều tra, bị cáo L không hề đến xin lỗi chị T để thể hiện bị cáo biết ăn năn, hối cải. Sau khi đăng video với hình ảnh chị T không mặc quần áo, kèm những nội dung làm nhục chị T; bị cáo L còn uy hiếp tinh thần yêu cầu chị T chuyển cho bị cáo số tiền 20.000.000 đồng thì bị cáo L sẽ gở tất cả các hình ảnh, video liên quan nội dung chị T giật chồng bị cáo L. Do đó, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, trong số những bài viết mà bị cáo L đăng tải trên mạng xã hội Facebook, có những bài thoả mãn việc phổ biến từ 10 đến 20 người, 10 lượt chia sẽ, có bài lên đến hơn 200 lượt người thích. Từ đó, cho thấy bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ theo quy định Điều 326 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử truy tố bị cáo Vũ Thị My L tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định Điều 170 và tội truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ theo quy định Điều 326 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T yêu cầu bị cáo L bồi thường thiệt hại bao gồm tổn thất tinh thần, chi phí photocopy tài liệu, chi phí đi lại, thu nhập bị mất với tổng số tiền 41.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị My L thừa nhận hành vi phạm tội “Làm nhục người khác”. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo L không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại chị T. Bị cáo L cho rằng hiện tại bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập, phải sống nhờ cha mẹ. Đồng thời, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị My L thừa nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại chị Nguyễn Diệu T, ông Lê Chí L, các kết luận giám định, bản ảnh, đoạn video và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định như sau: Xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, xem thường danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, do ghen tuông việc ông Lê Chí L (chồng bị cáo Vũ Thị My L) có quan hệ với chị Nguyễn Diệu T nên sau khi biết chồng mình là ông Lê Chí L có quan hệ bất chính với chị Nguyễn Diệu T, ngày 16/11/2021 bị cáo L đăng tải đoạn video clip hình ảnh khỏa thân của chị T lên mạng xã Facebook bằng tài khoản cá nhân tên “Mỹ Linh”, kèm theo lời lẽ xúc phạm chị T. Mục đích bị cáo L đăng đoạn video là nhằm khẳng định với chị T và mọi người là bị cáo L đã phát hiện chị T và ông L (chồng bị cáo L) có quan hệ bất chính, để bạn bè và người quen của bị cáo L cảnh giác với chị T, đồng thời làm chị T cảm thấy xấu hổ. Hậu quả đã làm xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của chị T. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Thị My L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03

tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để

phạm tội;

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị My L: Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của chị T một cách trái pháp luật, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Trong lúc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng chỉ vì ghen tuông nên bị cáo L đã thực hiện hành vi đăng tải trên mạng xã hội Facebook đoạn vieo chị T không mặc quần áo, kèm những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm chị T như đã nêu trên. Do đó, cần có biện pháp chế tài đủ nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét về nhân thân, Vũ Thị My L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo; có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng; bị cáo L đã tự nguyện dự nộp số tiền 1.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự HUYỆN v, TỈNH B để bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho chị T, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo L và anh Lê Chí L cũng đã ly hôn, hiện tại bị cáo L đang nuôi con nhỏ và bị hại cũng có lỗi nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trên theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bản thân chị Nguyễn Diệu T biết rõ ông Lê Chí L là người đã có vợ con; giữa ông Chí Linh và bị cáo Vũ Thị My L vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân, là vợ chồng hợp pháp. Chị T vẫn quan hệ bất chính với ông L và trong những lần quan hệ, ông L còn quay lại đoạn video chị T không mặc quần áo đi ra từ nhà tắm, sau đó bị cáo L phát hiện, từ đó dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên. Hành vi nêu trên của chị T và ông L là vi phạm đạo đức xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục của người Việt Nam và vi phạm chế độ một vợ một chồng (tại thời điểm thực hiện hành vi).

Ngoài ra, bị hại Nguyễn Diệu T còn yêu cầu Cơ quan điều tra Công an huyện V truy tố bị cáo Vũ Thị My L về tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ” theo quy định tại Điều 326 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vào ngày 17/10/2022, Toà án nhân dân huyện V thụ lý hồ sơ. Sau khi nghiên cứu, Toà án xét thấy, ngoài hành vi làm nhục người khác theo Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố, bị cáo Vũ Thị My L có căn cứ phạm tội “Truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ” theo quy định tại Điều 326 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Toà án nhân dân huyện V đã ban hành Quyết định số 02/2022/HSST-QĐ ngày 02/12/2022 về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát nhân dân huyện V. Theo Công văn số 512/VKSHS ngày 19/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V vẫn giữ nguyên cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 14/10/2022, chỉ truy tố bị cáo Vũ Thị My L về tội làm nhục người khác theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ Điều 298 Bộ Luật Tố tụng hình sự quy định giới hạn của việc xét xử: “Toà án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”.

Do đó, Toà án chỉ xét xử hành vi làm nhục người khác của bị cáo Vũ Thị My L mà Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB), nhãn hiệu Kingston ®, bằng kim loại, màu trắng, dung lượng 4GB, một đầu có một lỗ tròn đang được quản lý theo quy định của pháp luật (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/10/2022).

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, chị T yêu cầu bị cáo Vũ Thị My L bồi thường thiệt hại cho chị với số tiền 41.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, chị T không cung cấp cho Toà án cũng như Hội đồng xét xử bất kỳ tài liệu chứng cứ để chứng minh thu nhập của chị T, chi phi đi lại và chi phí photocopy tài liệu nên không có căn cứ chấp nhận.

Riêng đối với yêu cầu về tổn thất tinh thần đối với hành vi trái pháp luật mà bị cáo L gây ra, chị T yêu cầu bị cáo L bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền 20.000.000 đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “…mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

Như đã phân tích trên, việc chị T bị xúc phạm danh dự nhân phẩm có phần lỗi của chị T, nên số tiền tổn thất tinh thần của chị T được Hội đồng xét xử chấp nhận là 4.000.000 đồng; Bị cáo L đã khắc phục số tiền 1.500.000 đồng theo Biên lai số 0000374 ngày 23/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Bị cáo L có trách nhiệm tiếp tục bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho chị T tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

Về án phí: Bị cáo Vũ Thị My L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo L còn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 300.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

Từ các vấn đề phân tích nêu trên, chỉ chấp nhận một phần lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại Nguyễn Diệu T là luật sư Trương Thị Mỹ L.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị My L phạm tội “Làm nhục người khác”.

2. Căn cứ điểm a, e khoản 2 Điều 155; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Vũ Thị My L. Xử phạt bị cáo Vũ Thị My L 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu điện tử (USB), nhãn hiệu Kingston ®, bằng kim loại, màu trắng, dung lượng 4GB, một đầu có một lỗ tròn.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự HUYỆN v, TỈNH B đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/10/2022).

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Vũ Thị My L có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Diệu T số tiền 4.000.000 đồng. Bị cáo L đã khắc phục số tiền 1.500.000 đồng theo Biên lai số 0000374 ngày 23/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Bị cáo L có trách nhiệm tiếp tục bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho chị T tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V khi án có hiệu lực pháp luật.

5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Thị My L phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

6. Bị cáo Vũ Thị My L, bị hại Nguyễn Diệu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ