vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 01/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét Về xử lý vật chứng: Không xem xét Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 01/2/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L-TỈNH V

Người tiến hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L - tỉnh V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông H Tuấn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 31/8/1985. Tại: tỉnh V L

Nơi cư trú: ấp Cái Cạn, xã Mỹ Phước, huyện M T, tỉnh V L.

- Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha Nguyễn Văn Ẩn (đã chết); Mẹ Nguyễn Thị Tre, sinh năm 1963; Anh em: 02 người (Lớn nhất bị cáo; nhỏ nhất sinh năm 1987);

- Tiền án: Ngày 22/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh L A xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù vào ngày 20/9/2021.

- Tiền sự: Không

- Nhân thân: Ngày 14/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện M T, tỉnh V L xử phạt 05 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); Ngày 18/7/2019, bị Công an xã Mỹ Phước, huyện M T, tỉnh V L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2022 đến nay có mặt tại tòa.

Bị hại: anh Nguyễn Tăng Bảo, sinh năm 1976 ( có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L H, tỉnh V L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/12/2022, H điều khiển xe đạp đi từ nhà của H tại ấp Cái Cạn, xã Mỹ Phước, huyện M T, tỉnh V L tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đến khu vực xã T thì H thấy nhà của anh Nguyễn Tăng Bảo không có ai trông giữ nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà của anh Bảo tìm tài sản. H dùng tay xé lưới rào B40 tạo khoảng trống sau đó luồn người vào bên trong. H nhìn thấy 01 máy phai gỗ hiệu DCA và 01 lưỡi cưa lọng gỗ đang để trên bàn nên lấy đem ra đến hàng rào ném ra ngoài thông qua khoảng trống trước đó. Lúc H chuẩn bị chui ra ngoài thì anh Bảo phát hiện truy hô, bắt giữ H giao cho Công an.

Theo kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L H kết luận: 01 máy phai gỗ hiệu DCA và 01 lưỡi cưa lọng gỗ có tổng trị giá 870.000đ (Tám trăm bảy mươi ngàn đồng).

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số:12/QĐ-VKSLH, ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L H truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Bảo lưu quan điểm của quyết định truy tố, đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm h, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do không có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo tại tòa: Do bị bệnh tai biến không có tiền nên bị cáo đã đi trộm cắp tài sản của anh Bảo. Khi bị cáo thực hiện tội phạm thì bị bắt quả tang. Bị cáo đồng ý với kết quả định giá tài sản. Bị cáo không có khiếu nại quá trình tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến.

Ý kiến bị hại: Tôi đã nh lại tài sản, tôi không có yêu cầu bồi thường, xin toà án giảm nhẹ cho bị cáo.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nh định như sau:

[1.] Về tố tụng: Từ khi phát hiện vụ án đến khi khởi tố truy tố bị cáo, các quyết định thủ tục tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người tiến hành tố tụng đã đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng.

[2.] Về nội dung

[2.1] Lời khai nh tại phiên tòa của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Phù hợp với vật chứng được thu giữ, là trường hợp phạm tội quả tang và tài sản được định giá là 870.000đồng. Bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích. Do đó, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện L H quyết định truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội không oan sai.

Bản thân bị cáo vừa chấp hành án xong về địa phương ngày 20/9/2021 thì đến ngày 30/12/2022 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo thực hiện hành vi rất táo bạo, liều lĩnh, thực hiện vào ban ngày. Cho thấy bị cáo là phần tử nguy hiểm, gây mất trật tự cho đời sống bình thường của mọi người. Do đó, việc xử lý bị cáo nghiêm minh là cần thiết để giáo dục bị cáo và ổn định trật tự xã hội.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thật thà khai nh; Hậu quả vụ án có phần được hạn chế, tài sản đã thu hi trả lại cho người bị hại, phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn, bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ, Toà án có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị thiệt hại đã nh lại tài sản và không có yêu cầu nên không xem xét.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã giao trả tài sản cho bị hại là đúng, toà án không xem xét lại.

[2.6] Quan điểm của kiểm sát viên tại toà có cơ sở nên được chấp nh.

[2.7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẻ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2022.

2.Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét

3. Về xử lý vật chứng: Không xem xét

4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết: 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Nơi nh:

Cỡ chữ