- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Sơn - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày 16/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP- TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Mẫu.
Các Hội thẩm nhân dân; 1. Ông Nguyễn Quang Sáng.
2. Ông Nguyễn Xuân Thành.
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Cấn Trường Trung -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lập.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Hải, kiểm sát viên.
Ngày 16/01/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXX-ST ngày 06/01/2020 đối với bị cáo:
Hoàng Văn S- sinh ngày 21/7/1987
Nơi đăng ký HKTT: Khu Vông, xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ;
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12.Dân tộc: Mường. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam.
Bố đẻ: Hoàng Văn Th, sinh năm 1959. Mẹ đẻ: Hoàng Thị L, sinh năm 1960 hiện bố và mẹ đang ở khu Vông, xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ;
Vợ và con: Chưa có;
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị can bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/12/2019, đến ngày 26/12/2019 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Thanh Hải - Trợ giúp viên pháp lý
- Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người làm chứng:
1, Ông Đinh Công Th, sinh năm 1955. Vắng mặt.
Trú tại: Xóm Vông, xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
2, Anh Hà Quang Đ, sinh năm 1993. Có mặt.
Trú tại: Khu Minh Long, xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS-YL, ngày 03/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập - tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn S về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự với các tình tiết phạm tội như sau:
Do không có việc làm tại địa phương, nên từ đầu năm 2019 Hoàng Văn S đi làm thuê bốc vác tại chợ Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, đến ngày 18/12/2019 thì S nghỉ để về quê. Khi đang chuẩn bị đi về thì S gặp một người đàn ông (S không biết họ , tên tuổi, địa chỉ cụ thể) giao bán các khối hộp pháo nổ với giá 68.000đ một hộp ( mỗi hộp pháo có 36 quả ) nên S nảy sinh mua pháo nổ đem về xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập để bán kiếm lời. S đã mua 6 khối hộp pháo nổ hết 408.000đ. Sau khi mua được pháo nổ, S bắt xe khách và đem số pháo nổ về nhà Sở xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập cất dấu để bán và S giao bán pháo nổ trên ZALO điện thoại của S.
Khoảng 9 giờ, ngày 20/12/2019, S nhận được điện thoại của một người phụ nữ (S cũng không hỏi rõ họ , tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ), hỏi S để mua pháo nổ, S đã trao đổi với người phụ nữ đó với giá 250.000đ một khối hộp pháo nổ, người phụ nữ đó nhất trí mua của S 5 khối hộp pháo nổ với tổng số tiền 1.250.000đ và hẹn S đem pháo nổ ra chợ xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập để giao pháo nổ và nhận tiền. Sau khi trao đổi thống nhất mua bán pháo nổ, S đem 5 khối hộp pháo nổ ra chợ Phúc Khánh để giao pháo nổ, Khi S đem pháo nổ ra đến công chợ xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập (S chưa gặp được người phụ nữ hỏi mua pháo nổ) thì bị lực lượng công an huyện Yên Lập phát hiện bắt giữ, thu giữ 5 khối hộp pháo nổ. Khi bị bắt giữ S khai còn một khối hộp pháo nổ S vẫn đang cất dấu tại gầm cầu thang nhà S để có ai hỏi mua S tiếp tục bán, cơ quan điều tra công an huyện Yên Lập tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S thu giữ tiếp 1 khối hộp pháo nổ. Sau đó chuyển S cùng toàn bộ vật chứng về cơ quan điều tra công an huyện Yên Lập để giải quyết .
Ngày 20/12/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lập ra quyết định trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh Phú Thọ giám định về 06 khối hộp pháo nổ thu giữ của Sơn. Tại Bản kết luận giám định Số 39/KLGĐ ngày 24/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh kết luận:
04 (Bốn) khối hộp đều có kích thước 14,5cm x 14,5cm x 11,8cm trên một mặt mỗi khối hộp có 36 lỗ, mỗi lỗ có đường kinh 1,7cm và 02 (hai) khối hộp đều có kích thước 14,5 x 14,5 x 15cm bên trong mỗi khối hộp đều có 36 vật hình trụ tròn vỏ giấy mầu nâu (mẫu gửi giám định) đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là: 6,35 kg (Sáu phẩy ba mươi năm kilôgam).
Pháo nổ là ngành, nghề cấm kinh doanh được quy định tại điểm g khoản 1 điều 6 luật đầu tư năm 2014, sửa đổi bổ sung năm 2016.
Ngày 25/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lập ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Văn S về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan CSĐT công an huyện Yên Lập, Skhai nhận toàn bộ hành buôn bán 6,35 kg pháo nổ nhằm mục đích kiếm lời.
Hành vi phạm tội của Hoàng Văn S được thể hiện tại các bút lục hồ sơ số 18-19; 26 đến 29; 59 đến 62 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “ Buôn bán hàng cấm ”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Khoản 1, 2, 5 điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 đến 48 tháng. Thời hạn thử thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 điều 190 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến một trăm triệu đồng. Tại biên bản xác minh tài sản ngày 30/12/2019 của Cơ quan điều tra đối với Hoàng Văn S đã xác định bị can thu nhập không ổn định, thu nhập chủ yêu vào việc đi làm thuê theo thời vụ, không có tài sản gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 5,25 kg pháo nổ hoàn trả sau khi giám định được cho vào 02 hộp bìa cát tông dán kín, bên ngoài có chữ ký và dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 chiếc ba lô màu xám có chữ Spor cũ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Sam sung màu Sơn vàng cũ có IMEIL: 0352988107545519.
(Nhữngvật chứngtrên có đặcđiểm như trongbiênbảngiaonhậnvật chứngngày 06/01/2010).
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn S trình bày quan điểm bào chữa: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thật sự ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 đó là: thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo cải tạo tại địa phương, để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ®ưîc thÈm tra t¹i phiªn tßa, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn tßa trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña kiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
1. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về căn cứ buộc tội:
Lời khai của bị cáo Hoàng Văn S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận: Nhằm thu lời bất chính S đã có hành vi buôn bán 6,35 kg pháo nổ đủ yêu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” . Do vậy hành vi của Hoàng Văn S đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập đối với bị cáo Hoàng Văn S là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
3. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiệm trọng, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ngành, nghề cấm kinh doanh, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
4. Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn S chưa có tiền án tiền sự. Do muốn thu lời bất chính từ hành vi “Buôn bán hàng cấm” nên Hoàng Văn S đã vi phạm pháp luật. Vì vậy bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra.
5. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự là: Thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải và bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bản thân bị cáo trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt đường lối chính sách và pháp luật nhà nước Công an xã phúc khánh có công văn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có điều kiện rèn luyện tu dưỡng trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Trên cơ sở thể hiện sự nghiêm minh và sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo; Xét đề nghị của người bào chữa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của Pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét một mức án đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
6. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 điều 190 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến một trăm triệu đồng. Tại biên bản xác minh tài sản ngày 30/12/2019 của Cơ quan điều tra đối với Hoàng Văn S đã xác định bị can thu nhập không ổn định, thu nhập chủ yếu vào việc đi làm thuê theo thời vụ, không có tài sản gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
7. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 5,25 kg pháo nổ hoàn trả sau khi giám định được cho vào 02 hộp bìa cát tông dán kín, bên ngoài có chữ ký và dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 chiếc ba lô màu xám có chữ Spor cũ.
Ngoài ra 01 điện thoại Sam sung màu Svàng cũ có IMEIL: 0352988107545519. Là phương tiện thực hiện tội phạm nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước
(Nhữngvật chứngtrên có đặcđiểm như trongbiênbảngiaonhậnvật chứngngày 06/01/2020).
Trong vụ án này, S khai mua pháo nổ của một người đàn ông, S không biết họ , tên tuổi, đị chỉ cụ thể ở khu vực Chợ Đồng Đăng thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và trao đổi bán pháo nổ cho 1 người phụ nữ qua điện thoại, Skhông biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể để bán ở chợ xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, số điện thoại của người phụ nữ trao đổi mua pháo nổ, S đã xóa ngay khi bị công an huyện Yên Lập phát hiện. Nên cơ quan điều tra công an huyện Yên Lâp chưa xác định được, hành vi này được tách ra tiếp tục điều tra xác minh, nếu làm rõ xử lý sau.
8. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Khoản 1, khoản 2 và khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự. Khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1.Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Xử phạt bị cáo: Hoàng Văn S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Phúc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Hoàng Văn S.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 5,25 kg pháo nổ hoàn trả sau khi giám định được cho vào 02 hộp bìa cát tông dán kín, bên ngoài có chữ ký và dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.
01 chiếc ba lô màu xám có chữ Spor cũ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Sam sung màu Svàng cũ có IMEIL: 0352988107545519.
(Nhữngvật chứngtrên có đặcđiểm như trongbiênbảngiaonhậnvật chứngngày 06/01/2020).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Buộc bị cáo Hoàng Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện, tinh; - Bị cáo. - CA huyện Yên Lập; - Chi cục THADS huyện Yên Lập; - THA hình sự. - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHU TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Mẫu |