- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày: 07/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hữu Ái và ông Phan Quang Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo;
HỒ THANH N, sinh năm 1994 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Xóm 2, thôn 7, xã G, huyện, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ C và bà Huỳnh Thị B; có vợ là Bùi Thị H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 11/12/2019, có mặt tại tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thị A, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn 2, xã Tân Phúc, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Thanh N là người làm thuê cho chị Nguyễn Thị A tại quán ăn ở chợ Tân Phúc; đồng thời ở chung phòng trọ với chị An tại thôn 2, xã Tân Phúc, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Ngày 12/9/2019, N mượn xe mô tô của chị An để về nhà mình ở Tánh Linh; đến khoảng 03 giờ sáng ngày 13/9/2019, N về lại nhà trọ ở Tân Phúc để làm việc cho chị A. Khi đến nơi, N thấy cửa nhà trọ không khóa nên dắt xe mô tô vào. Thấy trong nhà không có người nên N nảy sinh ý định lục tìm tài sản để trộm cắp; ngay lúc đó, N vào phòng ngủ của chị A lục tìm và lấy trộm 02 điện thoại di động (01 cái hiệu Samsung Galaxy S8 và 01 cái hiệu Oppo realme 1811) rồi ra đườngđón xe ô tô khách về lại nhà mình ở Tánh Linh; tại đây, N đăng bán điện thoại di động hiệu Oppo realme 1811cho một người không rõ lai lịch với giá 800.000đ và bán điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 cho chị Bùi Thị T với giá 4.500.000đ; sau đó, N đã chuộc lại điện thoại từ chị T và giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Tân
Tại bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 29/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hàm Tân đã xác định: Giá trị của điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 tại thời điểm ngày 13/9/2019 là 2.850.000đ. Riêng điện thoại Oppo realme 1811, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hàm Tân không thu hồi được, chị Nguyễn Thị A không cung cấp hóa đơn nên không có cơ sở để xác định giá trị.
Vật chứng thu giữ là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Tân đã trả lại cho chị Nguyễn Thị A.
Vê phần dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Ayêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000đ là giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Oppo realme 1811.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Hồ Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Thanh N; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm I, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thanh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù. áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị A 2.500.000đ
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Hồ Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Bị cáo Hồ Thanh N biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất tham lam, tư lợi nên khoảng 03 giờ sáng ngày 13/9/2019, tại nhà trọ của chị Nguyễn Thị A bị cáo đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8 (có giá trị 2.850.000đ) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo realme 1811VIVO-V15 (không xác định được giá trị). Hành vi này bị cáo Hồ Thanh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Hồ Thanh N với tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Hồ Thanh N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; do đó, Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung, cũng như để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đâu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
Cơ Quan Cảnh sát Điều tra Công huyện Hàm Tân đã xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về phần dân sự:
Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Thị A yêu cầu bị cáo Hồ Thanh N bồi thường giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Oppo realme 1811 là 2.500.000đ; tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử Phạt: Bị cáo Hồ Thanh N 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 11/12/2019.
- Căn cứ: Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Bị cáo Hồ Thanh N phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị A2.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Căn cứ: Khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
-VKSND tỉnh;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND, CA huyện Hàm Tân;
- Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận
- Nhà tạm giữ CA huyện Hàm Tân
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ;
- Chi cục THADS Hàm Tân;
- UBND địa phương bị cáo cư trú.
Lê Hữu Tình TÒA ÁN HUYỆN HÀM TÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
––––––––––––––––––––––––––––––
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 07 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, Bình Thuận.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo Hồ Thanh N; sinh năm 1994 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Xóm 2, thôn 7, xã Gia An, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1/- Về tội danh:
- Bị cáo Hồ Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3
2/- Về điều luật áp dụng:
- Khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
- Khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Kết quả biểu quyết: 3/3
3/- Về mức hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hồ Thanh N 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 11/12/2019.
Kết quả biểu quyết: 3/3
4/- Các vấn đề khác:
- Bị cáo Hồ Thanh N phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị A2.500.000 đồng.
- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 07 tháng 2 năm 2020.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Các Hội thẩm nhân dân
| Phan Quang Sơn Phạm Hữu Ái | Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa Lê Hữu Tình |