- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn K phạm tôi trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn K phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày 17 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đình Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tri Thứ c.
́
Ông Phùng Ma ̣nh Cườ ng .
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngo ̣c Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Pha ̣m Văn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 218/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Vi Văn K; tên gọi khác: Không, sinh ngày 11 tháng 8 năm 1995 ta ̣i huyê ̣n V, tinh La ̣ng Sơn; nơi đăng ký hô ̣ khẩu và nơi thườ ng trú: thôn B, xã Y, huyện
̉ V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn X, sinh năm 1962 và con bà Đỗ Thị N, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; tiền án: Có 03 tiền án, cu ̣ thể: Ta ̣i bản án số 23/2013/HSST ngày 07/3/2013 của Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; bản án số: 24/2013/HSST ngày 18/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; bản án số: 11/2015/HSST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù giam về Tội trộm cắp tài sản, tinh đến nay chưa được đương nhiên xóa án; nhân thân:
́ Không bi ̣ xử lý hành chinh và xử lý kỷ luâ ̣t. Bi ̣ cáo bi ̣ bắt để ta ̣m giam từ ngày
́ 03/11/2018 đến nay, có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Quốc M, sinh năm 1978, trú tại: Số nhà 05, ngõ 01, phố M, phườ ng T, thành phố La, tỉnh La ̣ng Sơn, có mặt.
- Ngườ i có quyền lợi, nghia vụ liên quan:
̃
1. Anh Lưu Văn T; đi ̣a chỉ: Số 246, đườ ng T, phườ ng H, thành phố L, tỉnh La ̣ng Sơn, vắng mă ̣t.
2. Chi ̣ Lưu Thi ̣ V; đi ̣a chi: Thôn L, xả
T, huyê ̣̃
n H, tỉnh La ̣ng Sơn, vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 12 tháng 12 năm 2017 Vi Văn K đến quán điện tử Internet số 43/01, Phố M, phường T, thành phố L chơi điện tử, đến khoảng 19 giờ Vi Văn K thấy anh Lê Quốc M để chìa khóa xe mô tô và chiếc mũ bảo hiểm trên bàn đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, lợi dụng lúc anh Lê Quốc M chuyển vị trí ngồi chơi sang máy khác nhưng không cầm theo chìa khóa, Vi Văn K lấy mũ và chìa khóa xe của anh Lê Quốc M ra ngoài cửa quán Internets nổ máy điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Jupier biển kiểm soát 12H1 - 115xx của anh Lê Quốc M đi đến khu Công nghiệp Q, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, Vi Văn K bán xe trộm cắp được cho một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ được 5.000.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.
Tại các biên bản định giá tài sản tố tụng hình sự số: 190 ngày 13/12/2017 và số: 207 ngày 03/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố L xác định xe mô tô hiệu Yamaha Jupier biển kiểm soát 12H1 -115xx trị giá 20.300.000 đồng, mũ bảo hiểm Vi Văn K trộm cắp của anh Lê Quốc M trị giá 120.000 đồng.
Quá trình điều tra, do Vi Văn K không biết tên, địa chỉ người đàn ông mua xe tại khu Công nghiệp Q, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được xe mô tô biển kiểm soát 12H1 -115xx.
Tại cáo trạng số: 06/KSĐT ngày 25/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đã truy tố bị cáo Vi Văn K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa Vi Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Bi ̣ ha ̣i anh Lê Quốc M yêu cầu bi ̣ cáo phải bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i do tài sản bi ̣ xâm pha ̣m vớ i tổng số tiền là: 20.420.000 đồng.
Bi ̣ cáo cũng nhất tri bồi thườ ng cho bi ̣ ha ̣i vớ i số tiền nêu trên là:
́ 20.420.000 đồng.
Ta ̣i phần tranh luận Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn luận tội bị cáo Vi Văn K phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41 của Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt Vi Văn K từ 30 đến 36 tháng tù. Về hinh pha ̣t bổ sung, thấy bi ̣ cáo không có tài sản riêng nên đề nghi ̣
̀ không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung là pha ̣t tiền đối vớ i bi ̣ cáo. Về phần dân sự, đề
̀ nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i về tài sản giữa bi ̣ cáo vớ i bi ̣ ha ̣i số tiền là: 20.420.000 đồng. Về vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đề nghị: Trả la ̣i các tài sản bi ̣ ta ̣m giữ cho bi ̣ cáo, do không liên quan đến viê ̣c pha ̣m tô ̣i.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đều thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Bi ̣ ha ̣i không tranh luâ ̣n gi.
̀
Bi ̣ cáo nói lờ i nói sau cùng xin Hô ̣i đồng xét xử giảm nhe ̣ mứ c hinh pha ̣t
̀ cho bi ̣ cáo, để bi ̣ cáo có cơ hô ̣i sử a chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dụng vụ án: Ngày 12 tháng 12 năm 2017, tại số: 43/01, Phố M, phường T, thành phố L, tỉnh La ̣ng Sơn lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản Vi Văn K đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 12H1-115xx và 01 mũ bảo hiểm có tổng trị giá 20.420.000 đồng của anh Lê Quốc M đem đi bán cho mô ̣t ngườ i không quen biết đươ ̣c 5.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Do đó, đa đũ ̉ căn cứ kết luâ ̣n bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Trướ c đó bi ̣ cáo đa cõ ́ 03 tiền án chưa được xóa án tich, cu ̣ thể Ta ̣i bản
́ án số 23/2013/HSST ngày 07/3/2013 của Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; bản án số: 24/2013/HSST ngày 18/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản; bản án số: 11/2015/HSST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù giam về Tội trộm cắp tài sản, bi ̣ cáo đa tã ́i pha ̣m chưa được xóa án tich lần nay la ̣i tiếp tu ̣c thực hiê ̣n hành
́
vi pha ̣m tô ̣i do cố ý là thuô ̣c trườ ng hợp tái pha ̣m nguy hiểm được quy đi ̣nh ta ̣i điểm b khoản 2 Điều 49 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999 nay là điểm b khoản 2
̀
Điều 53 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015. Do đó cần áp du ̣ng điểm c khoản 2 Điều
̀ 138 để xử pha ̣t đối vớ i bi ̣ cáo vớ i tinh tiết đi ̣nh khung là tái pha ̣m nguy hiểm.
̀
Nhận thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội. Theo điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số: 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, quy định chỉ áp dụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018. Thấy hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện ngày 12 tháng 12 năm 2017 là trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 và mứ c hinh pha ̣t của tô ̣i Trô ̣m cắp tài
̀ sản quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 138 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999 vớ i tô ̣i Trô ̣m
̀ cắp tài sản quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 173 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015 đều có
̀ mứ c hinh pha ̣t ngang bằng nhau, nên áp dụng Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm
̀ 1999 để xử phạt đối với các bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong nhân dân, bị cáo là người đủ nhận thức về hành vi của minh và đa ̃
̀ bi ̣ xét xử hinh sự nhiều lần, nhưng không lấy đó làm bài ho ̣c mà bi ̣ cáo vẫn cố
̀ tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử lý bị cáo về hình sự và cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, về mứ c hinh pha ̣t xét thấy đề nghi ̣ của Vi ̣ đa ̣i diê ̣n viê ̣n kiểm sát ta ̣i
̀ phiên tòa là có căn cứ và phù hợp vớ i nhâ ̣n đi ̣nh của Hô ̣i đồng xét xử . Về hinh
̀ pha ̣t bổ sung, xét thấy bi ̣ cáo không có tài sản riêng nên không áp du ̣ng hinh pha ̣t
̀ bổ sung là pha ̣t tiền đối vớ i bi ̣ cáo.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có, do các lần pha ̣m tô ̣i trướ c đa tĩ nh là tinh tiết đi ̣nh khung tái pha ̣m nguy hiểm, nên không áp du ̣ng làm tinh
́
̀
̀ tiết tăng nă ̣ng đối vớ i bi ̣ cáo. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà, tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Về nhân thân, bị cáo có 03 tiền án và chưa bi ̣ xử lý hành chinh, xử lý
́ kỷ luâ ̣t lần nào, cho thấy bi ̣ cáo là ngườ i có ý thứ c chấp hành pháp luâ ̣t kém và thườ ng xuyên vi pha ̣m pháp luâ ̣t nên cần phải xử pha ̣t nghiêm khắc để giáo du ̣c, răn đe đối vớ i bi ̣ cáo.
Về phần dân sự: Công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n giữa bi ̣ cáo vớ i bi ̣ ha ̣i, cu ̣ thể. Bi ̣ cáo phải có trách nhiê ̣m bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i do tài sản bi ̣ xâm pha ̣m cho bi ̣ ha ̣i vớ i tổng số tiền là 20.420.000 đồng. Thấy sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n trên không trái vớ i pháp luâ ̣t và đa ̣o đứ c xa hô ̣̃ i nên Hô ̣i đồng xét xử công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n.
Vật chứng gồm: 6.000 đồng; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u NOKIA; 01 đồng hồ kim loa ̣i màu trắng, thấy không liên quan đến viê ̣c pha ̣m tô ̣i nên trả la ̣i cho bi ̣ cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 61; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 và Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 136; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các Điều 584; 585; 589; 357; khoản 2 Điều 468 của Bô ̣ luâ ̣t Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn K phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Vi Văn K 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hinh pha ̣t tù tính từ
̀ ngày bị bắt để ta ̣m giữ, ta ̣m giam là ngày 03 tháng 11 năm 2018.
2. Về phần dân sự: Công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n thỏa thuâ ̣n giữa bi ̣ cáo vớ i bi ̣ ha ̣i, cu ̣ thể: Bi ̣ cáo phải có trách nhiê ̣m bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i do tài sản bi ̣ xâm pha ̣m cho bi ̣ ha ̣i vớ i tổng số tiền là 20.420.000,đ (Hai mươi triê ̣u bốn trăm hai mươi nghin đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Lê Quốc M
̀ có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Vi Văn K không thi hành xong khoản tiền trên thì còn phải trả lãi tương ứng với số tiền chậm trả theo quy định Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Viê ̣c xử lý vâ ̣t chứ ng xử lý như sau: Trả la ̣i cho bi ̣ cáo Vi Văn K 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u NOKIA; 01 đồng hồ kim loa ̣i mà trắng (Các vâ ̣t chứ ng trên chi tiết được miêu tả ta ̣i biên bản giao nhâ ̣n vâ ̣t chứ ng ngày 27/12/2018 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố L vớ i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố L).
Trả la ̣i cho bi ̣ cáo Vi Văn K 6.000 đ (Sáu nghin đồng), số tiền này hiê ̣n
̀ đang được ta ̣m gử i ta ̣i số: 3949.0.1054411.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tại giấy Ủy nhiệm chi số: 45 ngày 16/01/2019 của Kho bạc Nhà nước Lạng Sơn.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Vi Văn K phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.021.000,đ (Một triê ̣u không trăm hai mươi mốt nghin đồng) án phi dân sự có giá nga ̣ch để sung công quỹ Nhà nước.
̀
́
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại nơi người đó thườ ng trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn; - Cơ quan thi hành án Hình sự Công an thành phố Lạng Sơn; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; Chi cục THA Dân sự TP. Lạng Sơn (Khi án có hiệu lực pháp luật); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Đình Phương |