- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lợi D bị truy tố mua bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lợi D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày 17-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Minh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2019/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2019/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Lợi D, sinh ngày 01/12/1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 195/34 Trần Văn Đang, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 98 Trần Khắc Chân, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CMND: 022243778 do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/01/2010; Con ông Lợi C (chết) và bà Lương A; Chồng: Quách Quốc Th; có 01 người con đã thành niên; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Hoàng Ngọc T, sinh năm 1987; Địa chỉ: 62 Nguyễn Thị Thập, phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 04/10/2018, Hoàng Ngọc T có nhu cầu mua thuốc lá để biếu nên đến cửa hàng tạp hóa tại số 131 Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1 gặp Lợi D (là chủ cửa hàng) hỏi mua 05 cây (50 gói) thuốc lá điếu loại 555 Gold. Lợi D báo giá cho ông T 05 cây thuốc lá điếu loại 555 Gold là 1.675.000 đồng và T đồng ý mua. D vào trong cửa hàng lấy 05 cây thuốc lá điếu loại 555 Gold (không có dán tem và không in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh) giao cho ông T. Khi T và D vừa giao nhận tiền và thuốc lá thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ - Công an Quận 1 tuần tra phát hiện nên đưa T và Lợi D về Công an phường Tân Định, Quận 1 để làm rõ (Bút lục 74).
Tiến hành khám xét cửa hàng tạp hóa tại số 131 Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1 thu giữ: 14 bao thuốc lá hiệu 555, 150 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, 50 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, tổng cộng 214 bao thuốc lá các loại. Tất cả số thuốc lá trên đều không có dán tem nhập khẩu và không in hình ảnh cảnh báo sức khỏe (Bút lục 51).
Theo công văn số 36/CV-HHTLVN ngày 10/10/2018 về việc thẩm định thuốc lá điếu ngoại nhập lậu thể hiện kết quả: 03 mẫu cây thuốc lá nhãn hiệu 555, Jet, Hero do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 cung cấp ngày 08/10/2018 là thuốc lá nhập lậu (Bút lục 78).
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1, Lợi D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. D khai nhận, cửa hàng của D chỉ được cấp phép kinh doanh sữa và tã lót nhưng để kiếm thêm thu nhập D bắt đầu bán thuốc lá nhập lậu từ đầu năm 2018. Ngày 05/01/2018, D đã bị Đội Quản lý thị trường 1B lập biên bản và Ủy ban nhân dân Quận 1 đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPVPHC ngày 10/01/2018 xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi buôn bán hàng cấm (buôn bán thuốc lá điếu ngoại nhập lậu) và D đã đóng phạt xong vào ngày 11/01/2018 (Bút lục 54 đến 57; 61 đến 67; 79 đến 91).
Vật chứng vụ án: 50 gói thuốc lá điếu loại 555 Gold và 1.675.000 đồng. Khám xét tại cửa hàng thu giữ: 14 bao thuốc lá điếu loại 555 Gold; 150 bao thuốc lá điếu loại Jet; 50 bao thuốc lá điệu loại Hero.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSQ1 ngày 02 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lợi D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định điểm e Khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội D bản cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Lợi D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đồng thời bị cáo phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng. Đối với vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không bào chữa, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lợi D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nội dung thể hiện: Vào khoảng 15 giờ ngày 04/10/2018, tại cửa hàng tạp hóa tại số 131 Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1, bị cáo Lợi D bị bắt quả tang khi đang bán 50 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho người mua là ông Hoàng Ngọc T với số tiền 1.650.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ tại cửa hàng do D làm chủ 14 bao thuốc lá điếu loại 555 Gold; 150 bao thuốc lá điếu loại Jet; 50 bao thuốc lá điệu loại Hero. Tất cả số thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên bị cáo khai mua lại (của những người không rõ lai lịch) mục đích để bán kiếm lời. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo đã có hành vi mua đi bán lại 264 bao thuốc lá điếu ngoại các loại do nước ngoài sản xuất, mục đích hưởng lợi. Mặt dù số lượng thuốc lá điếu nhập lậu bị cáo buôn bán dưới mức quy định tuy nhiên do ngày 10/01/2018, bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân Quận 1 ban hành Quyết định số 19/QĐ-XPVPHC do đã có hành vi bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu; Hình thức xử phạt là phạt tiền 15.000.000 đồng, bị cáo xác định không khiếu nại, không khởi kiện quyết định hành chính nêu trên và ngày 11/01/2018 đã nộp phạt xong. Hành vi của bị cáo Lợi D đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự nên cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ, mục đích lợi nhuận bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu mặc dù bị cáo nhận thức được đây là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh nên cần có mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân chưa có tiền án – tiền sự, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, số lượng thuốc lá kinh doanh không lớn, bị cáo tại ngoại và trong thời gian tại ngoại không vi phạm gì. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội. Mặt khác bị cáo phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nên việc áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự nhằm tước bỏ một phần quyền lợi về vật chất đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 1.675.000 đồng, đây là tiền mà ông T đã mua 05 cây thuốc là loại 555 Gold với bị cáo và bị bắt quả tang. Xét, ông T đã có lỗi trong việc để cho bị cáo thực hiện tội phạm nên đối với số tiền trên tịch thu sung công quỹ. Đối với số thuốc lá điếu nhập lậu gồm 50 gói thuốc lá điếu loại 555 Gold và 14 bao thuốc lá điếu loại 555 Gold; 150 bao thuốc lá điếu loại Jet; 50 bao thuốc lá điệu loại Hero thu giữ tại cửa hàng của bị cáo là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lợi D phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ vào điểm e Khoản 1 Điều 190; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lợi D 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Sung vào công quỹ nhà nước số tiền 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng); Tịch thu tiêu hủy 64 bao thuốc lá hiệu 555 Gold (Anh, màu xanh); 150 bao thuốc lá điếu hiệu Jet; 50 bao thuốc lá điệu hiệu Hero (Phiếu nhập kho vật chứng số 10/PNK ngày 14/12/2018 và Phiếu nhập kho vật chứng số 256/PNK ngày 24/10/2018 của Công an Quận 1)
- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Công an TP. HCM (PC 53 - Đ3); - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1; - Công an Quận 1; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1; - Thi hành án hình sự Quận 1; - Các đương sự; - Lưu VP - hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( Đã ký) Nguyễn Nhật Minh |