- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thanh Sang " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo S phạm tội “Trộm cắp tài sản” :
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày: 07.3.2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành
Ông Phạm Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương– Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường- Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong các ngày 27 tháng 02 và 07 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03 /2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
S, sinh năm 1990 tại Long An (Tên gọi khác: Bé Hai). Nơi đăng ký thường trú: Ấp 1A, xã TT, huyện C, tỉnh Long An; Nơi sinh sống (Cư trú): Ấp 1A, xã TT, huyện C, tỉnh Long An;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (Học vấn): 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tu và bà Th;
Tiền sự: 01: Tại Quyết định số 249/QĐ-UBND ngày 01/6/2018 UBND xã TT quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiền án: Chưa có; Nhân thân: Ngày 07/10/2008, bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An, quyết định đưa vào Trung tâm chữa bệnh- Giáo dục - Lao động xã hội bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 2728/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 04/10/2010;
Ngày 28/3/2011, bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An, quyết định đưa vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 468/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 04/10/2013. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 01/11/2018 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo S : Luật sư H – Văn phòng luật sư Minh Hòa
- Đoàn Luật sư Thành Phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số 454 Lê Văn L, phường Phước Kiển, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị hại: Anh L, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Số 55/17 Lê Thị Hồng Gấm, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH Một Thành Viên Sản xuất Thương Mại Dịch Vụ V.
Người đại diện theo pháp luật: Anh N – Chức vụ: Chủ tịch (Có mặt);
Nơi cư trú: Ấp Đồng Tâm, xã La, huyện C, tỉnh Long An;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi của bị cáo:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, từ tháng 5/2018 đến tháng 6/2018, S đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C, cụ thể như:
Lần thứ nhất: Vào đêm 17 rạng sáng ngày 18/5/2018, S điều khiển xe mô tô Dream (không gắn biển số) đến Công ty TNHH Một Thành Viên Sản Xuất, Thương Mại, Dịch Vụ V (viết tắt là Công ty V) ở ấp Đồng Tâm, xã La, huyện C, lén lút dùng tay bẻ 02 kính chiếu hậu của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai ACCENT BLUE màu trắng, biển kiểm soát ( viết tắt là BKS) 62A-037.22 của anh N đậu trước cửa công ty. S đem lên khu vực Quận 8-Tp.HCM đổi lấy ma tuý (heroin) để sử dụng.
Tại Bản kết luận về định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận giá trị còn lại của 02 kính chiếu hậu của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai ACCENT BLUE là 6.960.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 10/6/2018, S điều khiển xe mô tô Dream trên (trên xe có treo 01 bịt nilon màu đen, bên trong có 01 BKS xe mô tô số 52H1-2228) chạy từ nhà bạn ở xã Long Định về Ấp 1A, xã TT. S phát hiện 01 (một) xe ô tô hiệu Audi A4 BKS 51F-124.48 của ông L đậu phía trước cổng rào, không người trông giữ nên nảy sinh ý định bẻ trộm gương chiếu hậu. Khi đó, S điều khiển xe chạy về nhà, lấy 01 (một) kềm và 01 (một) bình xịt hơi cay bỏ vào túi quần, nếu bị phát hiện đuổi bắt thì xịt hơi cay lại để chạy thoát thân. Chuẩn bị xong, S chạy ra ngã tư TT mua áo mưa mặc vào rồi điều khiển xe mô tô chạy một mình đến chỗ xe ô tô của ông L đậu.
Khi gần đến, S dựng mô tô phía sau, cách xe ô tô của ông L một đoạn, S đi bộ đến gương chiếu hậu bên phải xe (phía bên trong lề, theo hướng từ đuôi xe nhìn lên). S kê vai phía dưới gương chiếu hậu, dùng 02 tay cầm gương để giảm tiếng động. S nâng vai lên, gương chiếu hậu bị đẩy lên rồi bung ra, dùng kềm cắt đứt dây cáp gắn gương vào xe. Khi cắt đứt xong dây cáp, S nghe tiếng cửa rào mở nên ôm gương chiếu hậu bỏ chạy, bị ông L và người thân đuổi, đánh trúng vào mắt. S vứt lại gương chiếu hậu, rồi lấy bình xịt hơi cay xịt về phía nhóm người ông L. Ông L bị hơi cay làm cay mắt nên không thể tiếp tục đuổi bắt S được. S chạy lại lấy xe mô tô định chạy đi nhưng phát hiện cần số xe bị hỏng nên bỏ xe lại, rồi chạy bộ về hướng ngã tư TT. Trong lúc chạy trốn, S đã vứt bỏ bình xịt hơi cay, kềm và cởi bỏ áo khoác, áo sơ mi và mũ bảo hiểm trên đường.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 37/KL-HĐĐGTS ngày 10/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận số tài sản mà S trộm của ông L bị thiệt hại là 10.400.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo khai: Do không có tiền tiêu xài cá nhân, không kiềm chế được lòng tham nên bị cáo bẻ trộm gương chiêu hậu của anh L và anh N mang đi bán. Bị cáo bị truy cứu về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai; Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” đối với bị cáo là phù hợp. Bị cáo không có ý kiến về Kết luận định giá tài sản; Lời khai của những người bị hại và lời khai của những người làm chứng vắng mặt mà Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép.
Đối với vụ trộm xảy ra ngày 18/5/2018 bị cáo không thực hiện hành vi trộm. Tuy nhiên do muốn sớm kết thúc điều tra để đi cải tạo nên bị cáo tự khai đại.
Lời trình bày của đại diện nguyên đơn dân sự anh N tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa như sau: Vào khoảng 03 giờ sáng ngày 18/5/2018 khi thức giấc anh N có kiểm tra camera ghi hình, qua kiểm tra phát hiện xe ô tô BKS 62A-037.22 bị mất 02 chiếc gương chiếu hậu. Xe ô tô BKS 62A-037.22 do Công ty V đứng tên chủ sở hữu do anh làm người đại diện theo pháp luật. Tài sản bị thiệt hại sau khi khấu hao tài sản trị giá 6.284.000 đồng, gia đình bị cáo S đã bồi thường đầy đủ cho anh.
Người bị hại anh L có lời trình bày tại Cơ quan cảnh sát điều tra: phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa về hành vi trộm xảy ra ngày 10/6/2018. Tại giấy bãi nại ngày 02/11/2018 ( BL số 134) thể hiện gia đình bị cáo S đã bồi thường chi phí sửa xe cho anh L là 5.000.000 đồng.
Những người làm chứng trình bày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C như diễn biến sự việc đã nêu trên. Sau khi được Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người làm chứng vắng mặt, bị cáo thừa nhận là phù hợp với hành vi của bị cáo, không có ý kiến phản đối.
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSCĐ ngày 29/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An truy tố bị cáo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tài sản của người bị hại, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải nghiêm trị.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 2 lần” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại, thành khẩn khai báo, tự thú, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ly hôn, bị hại có đơn xin bãi nãi, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 2 Điều 173; điểm b,s,r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo S từ 02 đến 03 năm
tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và nguyên đơn dân sự nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 BKS xe mô tô số 52H – 022.28 không rõ nguồn gốc; 02 chiếc dép kẹp màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xanh trên mũ có dõng chữ TONATO Helmet; 01 áo sơ mi dài tay màu đen trên cổ có nhãn hiệu RWN KAWENNO XL và 01 áo khoác vải dài tay màu đen, loại trùm đầu có hình biểu tượng của hãng Nike là của bị cáo S nhưng bị cáo không nhận lại. Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng xe Dream có thể hiện SM: LC 150FMG00374524, SK: LLCLXL301Y1071874 không có chủ sở hữu bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Luật sư bào chữa cho bị cáo S có ý kiến về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Thống nhất với tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo S. Đối với hành vi trộm ngày 18/5/2018 bị cáo S không thừa nhận nên yêu cầu Hội đồng xét xử làm rõ. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo S thống nhất với ý kiến phát biểu bào chữa của Luật sư và không có bổ sung.
Viện kiểm sát tranh luận với quan điểm của Luật sư: Đối với hành vi trộm ngày 18/5/2018 mặc dù tại phiên tòa bị cáo S không thừa nhận nhưng lời khai của bị cáo và bản tự khai đều phù hợp với lời khai của anh N và các tình tiết khác đã được thu thập do đó Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm bị cáo phạm tội hai lần.
Luật sư bào chữa cho bị cáo S vẫn giữ nguyên quan điểm, mong Hội đồng xét xử xem xét.
Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Nguyên đơn dân sự không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi người bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung vụ án: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/6/2018, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, khách quan tại phiên tòa. Lợi dụng sự sơ hở của anh L bị cáo S lén lút chiếm đoạt gương chiếu hậu xe ô tô của anh L bán tiêu xài cá nhân.
Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 10/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An kết luận: giá trị tài sản mà S trộm của anh L là 10.400.000 đồng.
Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An kết luận: giá trị tài sản mà S trộm của Công ty V là 6.960.000 đồng. Mặc dù tại phiên tòa bị cáo đã thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi trộm xảy ra ngày 18/5/2018 nhưng lời khai của bị cáo S tại cơ quan điều tra vào các ngày 15/7/2018, 22/11/2018, bản tường trình của bị cáo S phù hợp với lời khai của anh N về đặc điểm, màu sắc xe ô tô của anh N, phù hợp với biên bản môt tả cảnh quan, địa điểm nơi để xe ô tô của anh N được kiểm chứng vào ngày 04/3/2019. Chính bị cáo S cũng xác định tại Cơ quan điều tra lời khai của bị cáo là tự nguyện, không bị ai ép cung, mớm cung. Do đó có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo S đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc gương chiếu hậu xe ô tô BKS 62A-037.22 của Công ty V như luận tội của Viện kiểm sát.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “Hành hung để tẩu thoát” tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình Sự, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An đối với bị cáo là có căn cứ. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
đ)Hành hung để tẩu thoát.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh L và công ty V; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự thú, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có hoành cảnh khó khăn, cha mẹ ly hôn, người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo
đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo.
Xét hình phạt đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người bị hại; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có 1 tiền sự và nhân thân xấu;. Là một thanh niên có sức khỏe, đáng lẽ bị cáo chăm chỉ lao động để phục vụ nhu cầu bản thân, chăm lo cho gia đình, góp phần ổn định xã hội, gìn giữ an ninh trật tự chung. Nhưng bị cáo lại thực hiện những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm, trái với các chuẩn mực đạo đức xã hội; bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động; trộm cắp tài sản có được từ công sức lao động vất vả của người khác.Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Với tính chất hành vi, khả năng nhận thức của bị cáo, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục.
Xét hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại và nguyên đơn dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 BKS xe mô tô số 52H – 022.28 không rõ nguồn gốc; 02 chiếc dép kẹp màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xanh trên mũ có dõng chữ TONATO Helmet; 01 áo sơ mi dài tay màu đen trên cổ có nhãn hiệu RWN KAWENNO XL và 01 áo khoác vải dài tay màu đen, loại trùm đầu có hình biểu tượng của hãng Nike là của bị cáo S nhưng bị cáo không nhận lại. Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng xe Dream có thể hiện SM: LC 150FMG00374524, SK: LLCLXL301Y1071874 không có chủ sở hữu bị cáo dùng vào việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173 điểm b,r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Điều 47, Điều 135; Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố: Bị cáo S phạm tội “Trộm cắp tài sản” :
Xử phạt bị cáo S (02) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2018.
Tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng, tang vật của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 BKS xe mô tô số 52H – 022.28 không rõ nguồn gốc; 02 chiếc dép kẹp màu xanh; 01 nón bảo hiểm màu xanh trên mũ có dõng chữ TONATO Helmet; 01 áo sơ mi dài tay màu đen trên cổ có nhãn hiệu RWN KAWENNO XL và 01 áo khoác vải dài tay màu đen, loại trùm đầu có hình biểu tượng của hãng Nike là của bị cáo S nhưng bị cáo không nhận lại. Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng xe Dream có thể hiện SM: LC 150FMG00374524, SK: LLCLXL301Y1071874 không có chủ sở hữu bị cáo dùng vào việc phạm tội. Các vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C, tỉnh Long An đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2019.
Về án phí: Bị cáo S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được Tòa án niêm yết bản án hợp lệ. Nơi nhận:
- Bị cáo;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Người bị hại;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người bào chữa (Nếu có);
- Người có QLNVLQ (Nếu có);
- VKSND huyện C;
- VKSND tỉnh Long An;
- Cơ quan CSĐT CA huyện C;
- Nhà tạm giữ Công an huyện C;
- Cơ quan Thi hành án Hình sự;
- Cơ quan Thi hành án Dân sự;
HUỲNH HỮU NGHĨA
- Lưu.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của
Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ họ tên của bị c áo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |