vanban.org

Bản án 04/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Q 06(sáu) tháng tù; thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày bị tạm giữ (ngày 08/12/2017). Về dân sự: Buộc bị cáo Ngô Văn Q phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Thanh H với số tiền là: 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Quân trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/HS-ST
Ngày: 21-3-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bảo Huy và Ông Nguyễn Hòa Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bình An - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:02/2018/HS-ST ngày 13/02/2018theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Ngô Văn Q, sinh ngày 25/12/1995 tại A, Gia Lai; tr tại: T 2, phường X, thị xã A, Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa:10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quang K và bà Nguyễn Thị T (chết); vợ là Nguyễn Thị Tuyết M; bị cáo có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 08/12/2017 đến ngày 14/12/2017 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

* Người bị hại: Phạm Thị N, sinh năm 1968; tr tại: T 12, phường Z, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Lê Văn P, sinh năm 1982; tr tại: T 5, phường Z, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

2. Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1992; tr tại: T 2, phường U, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

3. Phan Thị Phương S, sinh năm 1990; tr tại: T 5, phường Z, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

4. Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1977; tr tại: T 6, phường Z, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đ u tháng 12/2017, Ngô Văn Q đến nhà ông Tr n ở thôn 4, xã I, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai làm thuê. Khoảng 14 giờ ngày 03/12/2017, Q mượn xe mô tô Biển kiểm soát 81N-8378 c a ông Y đi cắt tóc, ông Y đồng ý và giao xe. Q điều khiển xe mô tô đi t huyện Kông Chro đến khu vực thị xã A. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô đếnTrung tâm Thương mại thị xã A mục đích trộm cắp tài sản. Q dựng xe, rồi theo lối c u thang lên t ng 2 nhưng không phát hiện được gì. Q đi xuống dưới sảnh, đến ki ốt c a bà Nguyễn Thị M có ph bạt xanh bên ngoài, Q dở bạt lên l y 01 cái kéo b ng sắt dài khoảng 23 cm, cán nhựa màu đenrồi đến ki ốt c a bà Phạm Thị N. Q dùng kéo cắt tôn cửa bên trái ki ốt c a bà N một l kích thước: 43x22cm, cách mặt đ t 144cm. Sau đó Q l y 01 chiếc ghế g dài 1,5m, cao 50cmvà 02 viên gạch (loại gạch ống 6 l ) g n đó đặt lên ghế rồi đứng trên 02 viên gạch chui vào bên trong ki ốt c a bà N. Khi vào trong, Q l y 69 cây thuốc lá gồm: 30 cây thuốc lá con ó, 27 cây thuốc lá ngựa đen, 05 cây thuốc lá ngựa trắng, 02 cây thuốc lá Sài Gòn bạc, 02 cây thuốc lá Sài Gòn trắng, 02 cây thuốc lá Sài Gòn vàng, 01 cây thuốc lá Caraven và 03 hộp thịt bò, 11 hộp Pate heo b t t cả vào 02 bì ni long đưa ra ngoài. Q mang tài sản trộm cắp bán cho bà Nguyễn Thị Thanh H ở t 06, phường , thị xã A 35 cây thuốc lá các loại với số tiền: 1.350.000đ; bán cho bà Phan Thị Phương S 19 cây thuốc với giá: 750.000đ; bán cho 03 người phụ nữ đi bán dạo không xác định được lai lịch15 cây thuốc với giá: 450.000đ. Số tiền bán thuốc lá Q tiêu xài hết, còn 14 lon thịt Q đem đến căn nhà hoang trên đường Lê Duẩn thuộc t 06, phường , thị xã A rồi ăn hết.

Tại Kết lu n định giá tài sản số: 83/KLĐGTS ngày 13/12/2017 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A xác định, giá trị: 69 cây thuốc lá gồm: 30 cây thuốc lá con ó, 27 cây thuốc lá ngựa đen, 05 cây thuốc lá ngựa trắng, 02 cây thuốc lá Sài Gòn bạc, 02 cây thuốc lá Sài Gòn trắng, 02 cây thuốc lá Sài Gòn vàng, 01 cây thuốc lá Caraven và 03 hộp thịt bò, 11 hộp Pate heo là 6.551.000đ(Sáu triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng).

Quá trình điều tra mở rộng xác định, ngoài hành vi trộm cắp nói trên Ngô Văn Q còn thực hiện 02 l n vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:

L n 01: Vào khoảng 20 giờ ngày 13/11/2017, Ngô Văn Q đi bộ đến Trung tâm Thương mại thị xã A để trộm cắp tài sản. Q đi đến ki ốt c a bà Nguyễn Thị M l y 01 cái kéo b ng sắt, dài khoảng 23 cm, cán nhựa màu đenrồi đến ki ốt c a bà Phạm Thị N cắt cửa tôn, chui vào bên trong l y 20 cây thuốc lá gồm: 08 cây thuốc lá hiệu con ó, 01 cây thuốc lá hiệu ngựa trắng, 02 cây thuốc lá hiệu Sài Gòn vàng, 02 cây thuốc lá hiệu Sài Gòn trắng, 07 cây thuốc lá hiệu Sài Gòn bạc. Sau đó, Q để cây kéo ở vị trí c rồi mang số thuốc lá v a trộm được đến bán cho bà chị Nguyễn Thị Thu D ở T 2, phường U với giá: 1.000.000đ, số tiền này Q tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết lu n định giá tài sản số: 85/KLĐGTS ngày 13/12/2017 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A xác định, giá trị: 08 cây thuốc lá hiệu con ó, 01 cây thuốc lá hiệu ngựa trắng, 02 cây thuốc lá hiệu Sài Gòn vàng, 02 cây thuốc lá hiệu Sai Gòn trắng, 07 cây thuốc lá hiệu Sai Gòn bạc có t ng trị giá: 1.880.000đ (Một triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng).

L n 02: Vào khoảng 19 giờ, ngày 07/12/2017, Q đến ki ôt c a ông Lê Văn P tại Trung tâm Thương mại thị xã A dở bạt rồi l y 01 thùng mì tôm (100 gói) hiệu Kokomi thì bị nhân viên Ban quản lý Trung tâm Thương mại thị xã A bắt quả tang.

Tại Kết lu n định giá tài sản số: 81/KLĐGTS ngày 13/12/2017 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A xác định, giá trị 01 thùng mì tôm (100 gói) hiệu Kokomi giá trị là180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng).

Về v t chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã A đã thu giữ các v t chứng gồm:74 cây thuốc lá (740 gói) và 14 v lon thịt hộp;01 thùng mì tôm (100 gói) hiệu Kokomi;01 xe mô tô nhãn hiệu amaha jupiter, biển kiểm soát 81N1-8378.Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thị xã A đã trả lại cho bà Phạm Thị N 74 cây thuốc lá và 14 v lon thịt hộp; trả lại cho ông Lê Văn P 01 thùng mì tôm hiệu Kokomi; trả lại cho ông Tr n Y 01 xe mô tô nhãn hiệu amaha jupiter, biển kiểm soát 81N1-8378.

Tại Bản cáo trạng số: 02/CTr-VKS ngày 13/02/2018 c a Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Ngô Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản”theo quy định tại khoản 1 Điều 173 c a Bộ lu t Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản1 Điều51 và khoản 1 Điều 38 c a Bộ lu t Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo t 06 đến 09 tháng tù.

Về dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 c a Bộ lu t Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586 và khoản 1 Điều 598 c a Bộ lu t Dân sự năm 2015 buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền 1.350.000đ(Một triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa người bị hại Phạm Thị N trình bày: Vào tối ngày 03/12/2017bà bị kẻ gian cắt cửa ki ốt tại Trung tâm Thương thị xã A và l y 69 cây thuốc lá gồm: 30 cây thuốc lá con ó, 27 cây thuốc lá ngựa đen, 05 cây thuốc lá ngựa trắng, 02 cây thuốc lá Sài Gòn bạc, 02 cây thuốc lá Sài Gòn trắng, 02 cây thuốc lá Sài Gòn vàng, 01 cây thuốc lá Caraven và 03 hộp thịt bò, 11 hộp Pate heo. Ngoài ra vào ngày 13/11/2017, bà còn bị m t 20 cây thuốc lá các loại. Quá trình điều tra đã xác định được Ngô Văn Q là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho bà 74 cây thuốc lá các loại. Còn lại 15 cây thuốc và 14 lon thịt hộp không thu hồi được bà không yêu c u bị cáo phải bồi thường. Bà yêu c u Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai c a bà Nguyễn Thị Thanh H tại phiên tòa và lời khai c a ông Lê Văn P, bà Phạm Thị Phương Sang, ông Tr n Y, bà Nguyễn Thị Thu D có tại hồ sơ thể hiện:

Ông Lê Văn P khai đã bị m t 01 thùng mì tôm hiệu Kokomi đã được Cơ quan điều tra thu hồi và trả lại nên ông không có yêu c u gì về dân sự.

Bà Phan Thị Phương S, bà Nguyễn Thị Thu D và bà Nguyễn Thị Thanh H là những người mua tài sản do Ngô Văn Q bán. Khi mua họ không biết những tài sản này do Q phạm tội mà có. Bà S và bà D không yêu c u bị cáo phải bồi thường. Riêng bà Nguyễn Thị Thanh H yêu c u bị cáo phải bồi thường số tiền 1.350.000đ.

Ông Tr n Y khai khi cho Ngô Văn Q mượn xe mô tô ông không biết Q sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản. Hiện nay ông đã nh n lại xe mô tô đ ng nguyên hiện trạng nên ông không yêu c u về dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến kiến nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai c a bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai c a người bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đ cơ sở xác định:Vào khoảng 21 giờ ngày 03/12/2017, bị cáo Ngô Văn Q lén l t chiếm đoạt 69 cây thuốc lá các loại và 14 lon thịt hộp c a bà Phạm Thị N trị giá 6.551.000đ (Sáu triệu năm trăm năm mươi mốt ngàn đồng) tại Trung tâm thương mại thị xã A ở T 12, phường Z, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vì v y đã đ cơ sở tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội „Trộm cắp tài sản”.

Về áp dụng pháp lu t: Tại phiên tòa, Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173 c a BLHS năm 2015 và các quy định tương ứng c a Bộ lu t Hình sự 2015 để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. HĐXX xét th y: Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ph t ngày 01/01/2018, mặt khác mức hình phạt về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 c a Bộ lu t Hình sự 1999 b ng mức hình phạt về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 c a Bộ lu t Hình sự năm 2015, vì v y theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 c a Quốc Hội thì áp dụng khoản 1 Điều 138 c a Bộ lu t Hình sự năm 1999 để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000đ nhưng dưới 50.000.000đ nên đã vi phạm vàokhoản 1 Điều 138 c a Bộ lu t Hình sự năm 1999.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa người bị hại yêu c u giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì v y c n áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình sự được quy định tại các điểm h, p khoản 1, khoản 2Điều 46 c a Bộ lu t Hình sự năm 1999 để giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo.

Xét tính ch t, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân c ng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, th y c n áp dụng hình phạt tù cách ly ra ngoài xã hội để có thời gian cải tạo giáo dục đối với bị cáo mới đ tác dụng giáo dục và răn đe.

Về dân sự: Người bị hại bà Phạm Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bàPhạm Thị Phương S, bà Nguyễn Thị Thu D, ông Lê Văn Pvà ông Tr n Y không có yêu c u về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với bà Nguyễn Thị Thanh H yêu c u bị cáo Ngô Văn Q phải trả lại số tiền 1.350.000đ t việc mua bán 35 cây thuốc lá, xét yêu c u c a bà Hương là có cơ sở và đ ng pháp lu t do đó c n buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Thanh H số tiền 1.350.000đ.

Về v t chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đề c p.

Không có cơ sở xác định khi mua thuốc lá do bị cáo Ngô Văn Q bán bà Phạm Thị Phương S, bà Nguyễn Thị Thu D, bà Nguyễn Thị Thanh H biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Phạm Thị Phương S, bà Nguyễn Thị Thu D, bà Nguyễn Thị Thanh H về hành vi này.

Ngoài hành vi trộm cắp tài sản nói trên, ngày 13/11/2017 bị cáoNgô Văn Q còn có hành vi trộm cắp20 cây thuốc lá c a bà Phạm Thị N trị giá 1.880.000đ và ngày 07/12/2017 trộm cắp c a ông Lê Văn P 01 thùng mì tôm trị giá 180.000đ. Xét th y, hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 13/11/2017 và ngày 07/12/2017 chưa đ yếu tố c u thành tội phạm và bị cáo không thực hiện liên tục với hành vi trộm cắp tài sản c a bà Phạm Thị N vào ngày 03/12/2017 nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã A chuyển xử lý hành chính về hành vi này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩmvà án phí dân sự sơ thẩm theo quy định c a pháp lu t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 299 c a Bộ lu t Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm h, pkhoản 1, khoản 2Điều 46, Điều 33 c a Bộ lu t Hình sự năm 1999;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 42 c a Bộ lu t Hình sự năm 1999; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; khoản 1 Điều 589 c a Bộ lu t Dân sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Ngô Văn Q 06(sáu) tháng tù; thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày bị tạm giữ (ngày 08/12/2017).

Về dân sự: Buộc bị cáo Ngô Văn Q phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Thanh H với số tiền là: 1.350.000đ (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Kể t ngày người được thi hành án có đơn yêu c u thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án tiền lãi đối với số tiền ch m trả tương ứng với thời gian ch m trả với mức lãi su t được xác định theo th a thu n c a các bên nhưng không được vượt quá mức lãi su t giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 c a Bộ lu t dân sự, nếu không có th a thu n thì mức lãi su t thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 c a Bộ lu t dân sự.

Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Văn Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án (21/3/2018), bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo bản án để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự ph c thẩm. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày nh n được bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ