- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản đối với Lê Đắc D + ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đắc D và Lê Đắc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH TH Bản án số: 03/2025/HSST Ngày 20/01/2025 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL, TỈNH TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Trung Thành.
Ông Quách Văn Toản.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện NL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL tham gia phiên toà:
Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh THxét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Đắc D, sinh ngày 06/8/1992; tại tỉnh TH; nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn TT, xã YH, huyện YĐ, tỉnh TH; số căn cước công dân: 038092008104; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; con ông Lê Đắc D; con bà Lê Thị H; vợ: Trịnh Thị Ngọc O; con: Có 01 con sinh năm 2022; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 26/12/2012 bị Tòa án nhân dân huyện YĐ, tỉnh TH, xử phạt 15 tháng tù, về “Tội trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 47/2012/HS-ST, bị cáo đã chấp hành xong quyết định của bản án; Ngày 04/12/2017 bị Công an huyện NL xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; Ngày 06/12/2024 bị Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khi quân dụng”, theo Bản án số 56/2024/HS-ST. Bị bị tạm giữ 14/6/2024, chuyển tạm giam ngày 20/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
1. Lê Đắc D, sinh ngày 12/6/1988; tại tỉnh TH; nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: Thôn TT, xã YH, huyện YĐ, tỉnh TH; số căn cước công dân: 038088049013; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; con ông Lê Đắc D; con bà Lê Thị H; vợ: Nguyễn Thị N; con: Có 04 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2024; tiền sự: Không; tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 30/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện TS, tỉnh TH, xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 22 tháng về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 36/2013/HS-ST. Bị bị tạm giữ 18/6/2024, chuyển tạm giam ngày 21/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
* Người bị hại:
- Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn TS, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn TS, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn TS, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Bùi Xuân V, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn TP, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Vắng mặt).
- Bùi Văn H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn TP, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Vắng mặt).
- Anh Bùi Văn H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn TP, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Vắng mặt).
- Anh Bùi Văn H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn TP, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
- Anh Bùi Văn B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn TP, xã MT, huyện NL, tỉnh TH. (Có mặt).
- Anh Lê Hồng S, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn 7, xã DL, huyện TS, tỉnh TH. (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn TT, xã YH, huyện YĐ, tỉnh TH. (Có mặt).
- Chị Hà Thị P, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn TT, xã YH, huyện YĐ, tỉnh TH. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 13/6/2024, Lê Đắc D rủ Lê Đắc D đi bắt trộm chó để bán kiếm tiền tiêu xài, D đồng ý sau đó D về nhà thay quần áo, cầm theo một gậy (gọi là gậy ba khúc); D đem theo 01 bình xịt hơi cay, 01 bộ bình kích điện, 01 dây thòng lọng, 03 cuộn băng keo, 04 bì xác rắn, 01 khẩu súng tự chế, 03 viên đạn, 01 con dao, 01 đèn pin. Xong D điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36K6-882.04 gắn đè lên biển kiểm soát 36B8-338.39 chở Dưỡng đi theo hướng xã YT, huyện YĐ đi huyện NL.
Đến khoảng 02 giờ ngày 14/6/2024 D và D đến khu vực thôn TS, xã MT, huyện NL dùng kích điện, dây thòng lọng chích và bắt trộm được 03 con chó của gia đình ông Nguyễn Văn T, bà Nuyễn Thị C và ông Nguyễn Huy H thả dông trên đường thì bị người dân và lực lượng Công an xã MT phát hiện vây bắt, D điều khiển xe bỏ chạy, D ngồi phía sau sử dụng súng bắn chỉ thiên, đe dọa, đồng thời sử dụng dây thòng lọng, D cầm gậy ba khúc chống trả làm anh Bùi Văn B, anh Bùi Văn T, anh Nguyễn Hồng S bị thương tích. Trong lúc bỏ chạy xe bị trượt ngã xuống đường thì bị người dân bắt giữ lại, còn D bỏ chạy khỏi hiện trường, Công an xã MT, huyện NL tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đắc D và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan. Đến ngày 18/6/2024 Lê Đắc D đến Cơ quan điều tra Công an huyện NL đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngày 14/6/2024 Công an huyện NL ban hành yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện NL định giá đối với tài sản là 03 con chó sống, tổng trọng lượng là 41,2kg do D và D trộm cắp. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện NL kết luận: tại thời điểm ngày 14/6/2024 tài sản (03 con chó) có giá trị là 2.953.000 đồng, (Hai triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Ngày 14/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện NL ban hành Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh THgiám định đối với: 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có tổng chiều dài là 50,4cm, phần báng súng bằng gỗ dài 15cm, phần kim loại dài 23,5cm, đầu súng hình tròn, dạng ống đường kính 02cm; 03 viên đạn kim loại màu vàng đồng, dài 07cm, một đầu đường kính 02cm, một đầu có đường kính 1,7cm; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng đồng, bên ngoài được cuốn băng keo màu đỏ, bên trong không còn thuốc súng và đầu đạn, có đường kính 01cm; 01 bình dạng ống loại 110ml, đường kính 3,5cm, bên ngoài có in dòng chữ “NATO”. Tại Kết luận giám định số 2437/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh THkết luận:
“+ 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen dài 54,5cm (trong Quyết định là 50,4cm) không có kí hiệu gửi giám định là súng tự chế bắn loại đạn ghém cỡ 16, hiện tại còn sử dụng bắn được và thuộc loại vũ khí quân dụng.
+ 03 viên đạn có kí hiệu “16” gửi giám định đều là đạn ghém tự chế cỡ 16, thuộc loại có tính năng tác dụng tương tự như đạn súng săn- không phải vũ khí quân dụng.
+ 01 bình có kí hiệu “NATO CS-GAS” gửi giám định là vỏ của loại bình xịt hơi cay, hiện tại không còn sử dụng được.
+ 01 vỏ đạn có kí hiệu “31 65” gửi giám định là vỏ đạn của loại đạn quân dụng cỡ 7,62x39mm (vỏ đạn AK). Phòng Kỹ thuật hình sự từ chối giám định vỏ đạn này có phải do khẩu súng gửi giám định bắn ra hay không do không có đủ năng lực, điều kiện cần thiết cho việc thực hiện giám định.”
Ngày 20/9/2024 Công an huyện NL ra Quyết định trưng cầu giám định số 833/QĐ-CSĐT trưng cầu Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an giám định kết luận đối với 02 biển số xe mô tô 36K6-882.04 và 36B8-338.39, là thật hay giả.
Tại Kết luận giám định số 7296/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an kết luận: “Biển số xe mô tô 36K6-882.04 và biển số xe mô tô 36B8-338.39 gửi đến giám định có đặc điểm của dấu vết hằn dập Công an hiệu khác với đặc điểm của dấu vết hằn dập Công an hiệu ở biển số xe mô tô thật được lưu tại Viện Khoa học hình”. (BL143)
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 03 con chó sống, có tổng trọng lượng 41,2 kg gồm: 01 con chó giống cái, màu lông nâu – xám, trọng lượng 13,8kg; 01 con chó giống cái, màu lông đen – xám, trọng lượng 13,2kg; 01 con chó giống cái, màu lông vàng – đen, trọng lượng 14,2kg. Là 03 con chó sống mà Dưỡng và Dĩnh đã trộm cắp được.
- 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có tổng chiều dài là 50,4cm, phần báng súng bằng gỗ dài 15cm, phần kim loại dài 23,5cm, đầu súng hình tròn, dạng ống đường kính 02cm. Bên trong buồng đạn (ổ chứa đạn) của khẩu súng có 01 vỏ đạn hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng đồng, có kí hiệu “16”, chiều dài vỏ đạn 07cm, đường kính ngoài 18,5mm;
- 03 viên đạn kim loại màu vàng đồng, dài 07cm, một đầu đường kính 02cm, một đầu có đường kính 1,7cm;
- 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng đồng, bên ngoài được cuốn băng keo màu đỏ, bên trong không còn thuốc súng và đầu đạn, có đường kính 01cm;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, bên trong có lắp một thẻ sim;
- 03 cuộn băng keo màu đen, đường kính lần lượt 7,5cm, 7,8cm, 7,3cm;
- 01 ba lô bằng vải màu vàng xám, bên trong có một bình ác quy màu đen nhãn hiệu GS, loại 12,4V và một bộ kích điện không có nhãn hiệu;
- 01 vỏ bình xịt hơi cay, có tổng chiều dài 15cm, có kí hiệu “NATO CS-GAS”;
- 02 thòng lọng dài 2,8m, một đầu có gắn dây điện màu đen có phích cắm màu trắng, bên ngoài cuốn băng keo màu đen;
- 01 dao bấm bằng kim loại, tổng chiều dài 20cm;
- 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 36K6-882.04 gắn đè lên biển kiểm soát 36B8-338.39, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter, màu đỏ đen;
- 04 bì xác rắn và 01 vỏ chai bia màu nâu, bằng thủy tinh, có nhãn hiệu dòng chữ THANH HOA, cao 23cm.
Xử lý vật chứng, đồ vật, tài sản bị tạm giữ:
- Đối với 03 con chó sống sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sỡ hữu hợp pháp quản lý.
- 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, có tổng chiều dài là 50,4cm, phần báng súng bằng gỗ dài 15cm, phần kim loại dài 23,5cm, đầu súng hình tròn, dạng ống đường kính 02cm. Bên trong buồng đạn (ổ chứa đạn) của khẩu súng có 01 vỏ đạn hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng đồng, có kí hiệu “16”, chiều dài vỏ đạn 07cm, đường kính ngoài 18,5mm; được bàn giao cho Cơ quan ANĐT Công an tỉnh THkèm theo hồ sơ vụ án “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
- Đối với 01 viên đạn hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng đồng, có kí hiệu “16”, dài 6,9cm, đường kính ngoài 18,6mm. (02 viên đạn hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng đồng, kí hiệu “16”, mỗi viên đạn dài 6,9cm, đường kính 18,6mm, được Cơ quan giám định sử dụng các mẫu vật để bắn thực nghiệm nên không hoàn trả lại). Cơ quan điều tra bàn giao cho Công an huyện NL cùng hồ sơ, tài liệu liên quan để xem xét xử lý hành chính đối với Lê Đắc D về hành vi “Tàng trữ súng săn” quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội.
- Đối với 02 hai biển số xe mô tô 36K6-882.04 và 36B8-338.39 mà Lê Đắc D dùng để gắn đè lên xe mô tô BKS 36B8-771.13, qua giám định là biển không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Cơ quan điều tra chuyển 02 biển kiểm soát nêu trên cùng hồ sơ, tài liệu đến Công an huyện NL để xử phạt hành chính theo quy định.
- Đối với 01 vỏ đạn hình chai bằng kim loại màu vàng đồng, có kí hiệu “3165”, chiều dài vỏ đạn 38,6mm, đường kính trong miệng vỏ đạn 7,8mm, bên ngoài có băng keo màu đỏ, thu giữ khi khám nghiệm hiện trường. Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị can Lê Đắc D và Lê Đắc D, nên tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B8-771.13 thuộc sở hữu của gia đình chị Hà Thị Phấn và anh Lê Đắc Dũng, trú tại thôn TT, xã YH, huyện YĐ; việc Lê Đắc D mượn xe sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp chị Phấn không biết và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.
- Đối với chiếc gậy ba khúc Lê Đắc D sử dụng để thực hiện hành vi chống trả để tẩu thoát, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Vật chứng tiếp tục bảo quản, chờ xử lý gồm: 03 cuộn băng keo màu đen, đường kính lần lượt 7,5cm, 7,8cm, 7,3cm; 01 ba lô bằng vải màu vàng xám, bên trong có một bình ác quy màu đen nhãn hiệu GS, loại 12,4V và một bộ kích điện không có nhãn hiệu; 01 vỏ bình xịt hơi cay, có tổng chiều dài 15cm, có kí hiệu “NATO CS-GAS”; 02 thòng lọng dài 2,8m, một đầu có gắn dây điện màu đen có phích cắm màu trắng, bên ngoài cuốn băng keo màu đen; 01 con dao bằng kim loại, tổng chiều dài 20cm; 04 bì xác rắn, 01 vỏ chai bia màu nâu, bằng thủy tinh, có nhãn hiệu dòng chữ THANH HOA, là vật chứng liên quan đến vụ án, đã chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện NL để xét xử và thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Văn T, chị Nuyễn Thị C và anh Nguyễn Huy H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 01 ngày 03/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện NL đã truy tố Lê Đắc D và Lê Đắc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 56 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đắc D. Xử phạt bị cáo Lê Đắc D từ 30 đến 32 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù (Bản án đã có hiệu lực pháp luật bị cáo chưa chấp hành) tại Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh TH, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 54 đến 56 tháng tù và Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đắc D. Xử phạt bị cáo Lê Đắc D từ 28 đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hũy vật chứng của vụ án theo phiếu nhập kho số: NK 2023/008 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL, tỉnh THvà buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bị hại trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm
Người làm chứng có mặt trình bày phù hợp với lời khai của các bị cáo, phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu chúng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật, không có trường hợp nào bị khiếu nại, hoặc bị tố cáo phải giải quyết.
[2]. Về căn cứ định tội và định khung hình phạt đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng đã nêu, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ sáng ngày 14/6/2024, Lê Đắc D và Lê Đắc D đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là chó của các gia đình Nguyễn Văn T, Nuyễn Thị C và Nguyễn Huy H, có tổng giá trị là 2.953.000 đồng. Khi bị người dân phát hiện vây bắt thì Dưỡng đã sử dụng súng bắn chỉ thiên và dùng thòng lọng, Dĩnh sử dụng gậy, vỏ chai bia hành hung, uy hiếp, chống trả người dân vây bắt để tẩu thoát. Hành vi Lê Đắc D sử dụng súng bắn chỉ thiên đã bị Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh THxét xử và tuyên phạt 24 tháng tù, về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khi quân dụng”, theo Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 (Bản án đã co hiệu lực pháp luật bị cáo chưa chấp hành).
Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NL, truy tố bị cáo Lê Đắc D và Lê Đắc D tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất vai trò và mức độ phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Để giữ nghiêm pháp luật và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra. Các bị cáo phạm tội không có sự phân công cấu kết chặt chẽ với nhau, nên trường hợp phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D là người chủ động rủ bị cáo D đi trộm cắp tài sản và là người chuẩn bị công cụ, phương tiện và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp. Bị cáo D là người điều khiển xe mô tô chở D, áp sát và tạo điều kiện cho D thực hiện hành vi trộm cắp, nên bị cáo D là người giữ vai trò chính và cao hơn vai trò của bị cáo D, theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Đắc D sau khi phạm tội đã đến Công an huyện NL đầu thú khai báo hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 06/12/2024 bị cáo Lê Đắc D đã bị Tòa án nhân dân huyện NL xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khi quân dụng”, theo Bản án số 56/2024/HS-ST, nên bị cáo Lê Đắc D sẽ bị tổng họp hình phạt theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhân thân xấu, nên phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bi cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, các bị cáo không có tài sản riêng, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.
[6]. Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về vật chứng:
- Đối với 03 con chó sống sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sỡ hữu hợp pháp quản lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 khẩu súng bằng kim loại, màu đen và 01 viên đạn hình trụ tròn bằng kim loại màu vàng đồng đã được xử lý trong vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với biển số xe mô tô 36K6-882.04 và 36B8-338.39, D gắn đè lên xe mô tô BKS 36B8-771.13, là biển không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Cơ quan điều tra đã chuyển cùng hồ sơ đến Công an huyện NL để xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Đối với 01 vỏ đạn hình chai bằng kim loại màu vàng đồng. Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên tiếp tục tạm giữ để xác minh xử lý sau là phù hợp.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B8-771.13 thuộc sở hữu của gia đình chị Hà Thị Phấn, trú tại thôn TT, xã YH, huyện YĐ; việc Lê Đắc D mượn xe sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp chị Phấn không biết và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc gậy ba khúc Lê Đắc D sử dụng để thực hiện hành vi chống trả để tẩu thoát, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 03 cuộn băng keo màu đen; 01 ba lô bằng vải màu vàng xám, bên trong có một bình ác quy màu đen nhãn hiệu GS, loại 12,4V và một bộ kích điện không có nhãn hiệu; 01 vỏ bình xịt hơi; 02 thòng lọng; 01 con dao bằng kim loại; 04 bì xác rắn, 01 vỏ chai bia là vật chứng liên quan đến vụ án, giá trị sử dụng không còn, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đắc D và Lê Đắc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Lê Đắc D.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đắc D 30 (Ba mươi) tháng tù và tổng hợp với hình phạt 24 (Hai bốn) tháng tù (Bị cáo chưa chấp hành) tại Bản án số 56/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện NL. Buộc bị cáo Lê Đắc D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14/6/2024.
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Lê Đắc D.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đắc D 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/6/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Lê Đắc D và Lê Đắc D.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 03 cuộn băng keo; 01 ba lô bằng vải, bên trong có một bình ác quy và một bộ kích điện; 01 vỏ bình xịt hơi cay; 02 chiếc thòng lọng; 01 con dao bằng kim loại; 04 bì xác rắn, 01 vỏ chai bia, theo phiếu nhập kho số NK 2023/008 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL tỉnh TH.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê Đắc D và Lê Đắc D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo và người bị hại. Các bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/01/2025.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - TAND tỉnh TH; - VKSND tỉnh TH; - VKSND huyện NL; - Cơ quan THA dân sự huyện NL; - Cơ quan CSĐT Công an huyện NL; - Cơ quan THA hình sự Công an huyện NL; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Xuân Vinh |