- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày 07/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bình.
Bà Nguyễn Ngọc Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm: Hội trường Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện V xét xử công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Chau Cung Vanh N (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm; 2000, tại An Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ tên cha: Cau P, sinh năm 1977; Họ tên mẹ: Neàng P, sinh năm 1976; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 25/8/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh số 297/LTG ngày 30/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
2. Họ và tên: Chau R; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10/10/2000, tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; Nơi ở: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên cha: Chau Som R - sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Neàng P1 - sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 25/8/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh số 298/LTG ngày 30/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Các bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần là phòng xét xử trực tuyến đặt tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai dưới sự tham gia giám sát, bảo vệ của các cán bộ chiến sỹ Công an huyện V gồm các ông:
1/ Ông Hàng Minh H.
2/ Ông Nguyễn Trí T.
3/ Ông Bùi Trí T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chau Cung Vanh N và Chau R1 thường sử dụng trái phép chất ma túy, nên N biết ở khu vực đầu đường vào Khu công nghiệp T thuộc ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có bán ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/8/2024, Chau Cung Vanh N đến chơi tại phòng trọ số H của C thuộc ấp E, xã T, huyện V do ông Lương Ngọc N1 quản lý dãy nhà trọ. Tại đây N và R1 rủ nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng, N bỏ ra 150.000 đồng và R1 đưa N 100.000 đồng. N cầm tiền và điều khiển xe mô tô Honda Winner biển số 47H1-562.72 đến đầu đường vào Khu công nghiệp T tìm gặp người đàn ông hỏi mua ma túy. N đưa cho người đàn ông 250.000 đồng và nhận bịch nylon chứa ma túy đá, một tẩu thủy tinh. Sau đó, N quay về phòng trọ đưa R1 bịch ma túy và tẩu thủy tinh vừa mua. R cùng N lấy chai nước ngọt Sting, ống hút nhựa tại phòng trọ gắn vào tẩu thủy tinh tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Rai cắt bịch nylon đổ ma túy vào tẩu thủy tinh, cùng N thay phiên nhau dùng bật lửa nung nóng sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy, R cất bộ dụng cụ sau cửa nhà vệ sinh trong phòng trọ và cùng N nằm nghỉ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an xã T phối hợp với lực lượng Công an huyện V kiểm tra phòng trọ của R, phát hiện các dấu vết và dụng cụ liên quan đến hành vi vừa tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chau Cung V và Chau R, chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.
- Vật chứng vụ án: 01 bộ dụng cụ ma túy gồm 01 chai nhựa loại Sting có gắn 01 ống hút nhựa cam trắng và 01 tẩu thủy tinh (bên trong bám chất mềm màu nâu); 01 bịch nylon đã bị cắt (bên trong bám tinh thể màu trắng); 01 bật lửa; 01 xe mô tô Honda Winner biển số 47H1-562.72; 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy A05.
+ Kết quả kiểm tra (test nhanh) xác định Chau Cung V và Chau R đều dương tính với ma túy.
+Tại Bản kết luận giám định chất ma túy số 1703/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Mẫu chất màu nâu bám dính trong 01 nỏ thủy tinh là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
Mẫu chất màu trắng bám dính trong 01 gói nylon là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. H1 lại đối tượng sau giám định trong niêm phong số 1703/KL-KTHS.
Kết quả xác minh xác định: Xe mô tô Winner biển số 47H1-562.72 do YDungHwing - sinh năm 2003, ngụ tại B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đứng tên chứng nhận đăng ký. Năm 2022, YDungHwing bán cho người khác, không làm thủ tục sang tên. Chau Cung Vanh N đã mua xe tại một cửa hàng xe máy cũ (không nhớ tên) ở huyện L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 25/8/2024, Chau Cung Vanh N sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy.
Tại Cáo trạng số: 163/CT-VKSVC ngày 27/11/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Chau Cung V, Chau R về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố Chau Cung Vanh N, Chau R về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Chau Cung Vanh N, Chau R mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
- Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (được niêm phong kí hiệu 1703/KL-KTHS); 01 chai nhựa loại Sting có gắn 01 ống hút nhựa cam trắng và 01 bật lửa.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô Honda Winner biển số 47H1-562.72, là phương tiện Chau Cung Vanh N sử dụng vào việc phạm tội.
- Trả lại cho Chau Cung Vanh N 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy, vì không liên quan đến phạm tội.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ và hợp lệ. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Tội danh và hình phạt:
Tại phiên tòa, các bị cáo N, R khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/8/2024, tại phòng trọ số H của C thuộc ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Chau Cung V và Chai R tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với nhau.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ nhận thức được tác hại của ma túy và những quy định cấm của pháp luật với mọi hành vi phạm tội về ma túy nhưng vẫn cố ý tổ chức sử dụng trái phép. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N, R thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo N góp tiền, trực tiếp mua ma túy và 01 nỏ thủy tinh cùng R chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bị cáo R góp tiền, cung cấp địa điểm và thiết bị chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Do đó, mức hình phạt của N, R là ngang nhau. Cả hai bị cáo đều là người dân tộc thiểu số (Khmer) nên khả năng hiểu biết pháp luật còn hạn chế.
Từ những nhận định trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để đưa ra một bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (được niêm phong kí hiệu 1703/KL-KTHS); 01 chai nhựa loại Sting có gắn 01 ống hút nhựa cam trắng và 01 bật lửa.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô Honda Winner biển số 47H1-562.72, là phương tiện Chau Cung Vanh N sử dụng vào việc phạm tội.
- Trả lại cho Chau Cung Vanh N 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy, vì không liên quan đến phạm tội.
Về vấn đề khác:
- Đối với ông Lương Ngọc N1 quản lý khu nhà trọ là địa điểm các bị cáo phạm tội, nhưng ông N1 không biết Chau Cung Vanh N và Chau R tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xử lý là phù hợp.
- Đối với người đàn ông ở khu vực Khu Công nghiệp T bán ma túy cho Chau Cung Vanh N, yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và mức án bị cáo N, R phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Chau Cung Vanh N, Chau R phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Chau Cung Vanh N: 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2024.
Xử phạt bị cáo Chau R: 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2024
2.Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (được niêm phong kí hiệu 1703/KL-KTHS); 01 chai nhựa loại Sting có gắn 01 ống hút nhựa cam trắng và 01 bật lửa.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô Honda Winner biển số 47H1-562.72 là phương tiện Chau Cung Vanh N sử dụng vào việc phạm tội.
- Trả lại cho Chau Cung Vạnh N 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy, vì không liên quan đến phạm tội.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai)
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo N, R1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Các bị cáo Chau Cung Vanh N, Chau Rai có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Công an huyện Vĩnh Cửu; - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam; -Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu; - Phòng HSNV- Công an Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Quỳnh |