- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy P về tội "Đào ngũ" - phạm tội đào ngũ (điều 402 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 03/2023/HS-ST Ngày 21 – 3 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 4/ Võ Hồng Ánh Vân.
Các Hội thẩm quân nhân:
3// Trần Xuân Sơn
2// Trần Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: 1// Nguyễn Tất Trình, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực 1 QK5.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 52 Quân khu 5 tham gia phiên tòa: 4/ Mai Ngọc Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại Sân vận động e38, f2, QK5, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST-HS ngày 06/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 07/3/2023, đối với bị cáo:
Phạm Duy P, sinh ngày 30/4/2003 tại tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; nơi ĐKNKTT: xã CAB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nhập ngũ: tháng 02/2022; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: B2, CS, a5, b5, c6, d5, e38, f2, QK5; Quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Duy T (chết) và bà Nguyễn Thị Phi P1, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giam ngày 07/12/2022, hiện tạm giam tại Trại tạm giam QĐ3; có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Đoàn Kông N; có mặt.
- Ông Huỳnh Xuân D; có mặt.
- Ông Lê Đức B; có mặt.
- Ông Phùng Văn T; có mặt.
- Ông Lê Văn P2; có mặt.
- Ông Đặng Quang T1; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Phi P1; có mặt.
- Bà Phạm Thị Kim O; có mặt.
- Ông Trần Đông Q; vắng mặt.
Đại diện e38, f2, QK5 tham dự phiên tòa: 1// Nguyễn Nhất Quang, CU, e38, f2, QK5; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Duy P nhập ngũ tháng 02/2022, được biên chế công tác tại a5, b5, c6, d5, e38, f2, QK5 đóng quân thuộc địa phận thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia lai.
Trong thời gian công tác, do không muốn phục vụ trong môi trường Quân đội nên P đã nảy sinh ý định đào ngũ. Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 15/3/2022, sau khi thức dậy P đi theo hướng từ nhà vệ sinh phía sau b5 đi đến một con suối lớn, rồi tiếp tục đi dọc con suối này để ra QL19. Tại đây, P bắt xe khách đi tỉnh Khánh Hòa. Khoảng trưa ngày 15/3/2022, P xuống xe tại ngã ba CB, xã CTB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa và tiếp tục đón xe khách đi đến nhà chị ruột là Phạm Thị Kim O ở Ấp BS, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Chị O có động viên P trở lại đơn vị nhưng P không nghe. Ở nhà chị ruột khoảng một tháng, P liên hệ một người bạn tên Lê Công H trú tại tỉnh Khánh Hòa và được H giới thiệu giúp P ở và phụ bán cà phê tại nhà anh Trần Đông Q, trú tại Ấp TM2, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, ở được hơn một tháng thì P về lại xã CTB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa làm công trình.
Sau khi Phạm Duy P tự ý rời khỏi đơn vị. Đơn vị đã cử cán bộ phối hợp với gia đình, địa phương để tìm kiếm nhưng không biết P ở đâu. e38 đã ra Thông báo quân nhân đào ngũ 03 lần trong các ngày 22/3/2022, 14/4/2022, 29/4/2022 và cử cán bộ về địa phương, gia đình P làm việc nhưng không có kết quả, P không trở lại đơn vị. Ngày 24/3/2022, dt/d5, e38, f2, QK5 ban hành Quyết định số 01/QĐ-TĐ về việc thi hành kỷ luật “Cảnh cáo” đối với Phạm Duy P về hành vi “Đào ngũ” cùng Thông báo số 03/TB-TĐ về việc thi hành kỷ luật đối với quân nhân đào ngũ và gửi thông báo cho UBND xã CAB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, Ban Chỉ huy quân sự (Ban CHQS) huyện C, Bộ Chỉ huy quân sự (BCHQS) tỉnh Khánh Hòa và gia đình P, đồng thời gửi Báo cáo số 21/BC-TĐ cho Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 5 QK5. Việc điều tra xác minh, không xác định Phạm Duy P đang ở đâu, ngày 19/7/2022, Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 5 QK5 ra Quyết định truy nã đối với P. Sáng ngày 07/12/2022, Phạm Duy P bị Công an xã CAB bắt theo quyết định truy nã.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, Phạm Duy P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo khai nhận: Tối ngày 14/3/2022, bị cáo nảy sinh ý định đào ngũ nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự, nên khoảng 04 giờ 45 phút ngày 15/3/2022, bị cáo trốn khỏi đơn vị ra QL19 đón xe khách về tỉnh Khánh Hòa. Khi đến ngã ba CB, xã CTB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, bị cáo xuống xe và tiếp tục đón xe khách đến nhà chị gái tên Phạm Thị Kim O ở tỉnh Đồng Nai ở khoảng một tháng. Bị cáo có nói với chị gái và thông tin với gia đình về việc đã rời khỏi đơn vị. Bị cáo liên lạc nhờ một người quen là Lê Công H giới thiệu việc làm. Anh H giới thiệu bị cáo đến nhà anh Trần Đông Q trú tại Ấp TM2, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo phụ bán cà phê cho anh Q được hơn một tháng thì đón xe về lại xã CTB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa làm công trình xây dựng. Ngày 07/12/2022, bị cáo về nhà mẹ ruột thì bị Công an xã CAB, huyện C, tỉnh Khánh Hòa bắt theo quyết định truy nã.
Người làm chứng Đặng Quang T1 (chiến sĩ a5) khai: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 15/3/2022, tôi thấy P đi vệ sinh nhưng không thấy vào nên báo đồng chí Lê Văn P2 (at), sau đó đơn vị có kiểm tra và tổ chức tìm kiếm nhưng không thấy. Tại đơn vị P vẫn chấp hành đầy đủ các quy định, sinh hoạt bình thường và không có biểu hiện gì bất thường.
Người làm chứng Đoàn Kông N (dt/d5), Lê Đức B (pdt/d5), Huỳnh Xuân D (ct/c6), Phùng Văn T (bt/b5), Lê Văn P2 (at/a5) đều xác nhận: Khoảng sáng ngày 15/3/2022, sau khi phát hiện Phạm Duy P không có mặt tại đơn vị đã cử cán bộ 03 lần phối hợp với địa phương và liên hệ với gia đình tìm kiếm P để quay lại đơn vị nhưng không có kết quả. Ngày 24/3/2022, đơn vị ra Quyết định số 01/QĐ-KL xử lý kỷ luật “Cảnh cáo” về hành vi “Đào ngũ” đối với P. Các quyết định xử lý kỷ luật được đơn vị thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Thông tư 16/2020/TT-BQP ngày 21/02/2020 của Bộ Quốc phòng quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng (Thông tư 16/2020/TT-BQP). Khi trốn P không mang theo tài sản gì của đơn vị.
Lời khai của Phạm Thị Kim O (chị ruột bị cáo): Tối ngày 15/3/2022, P có đến nhà tôi và ở lại khoảng một tháng. Trong thời gian này tôi biết P trốn khỏi đơn vị và bị đơn vị kỷ luật, tôi có gọi điện báo cho mẹ tôi biết. Ngày 28/3/2022, đơn vị có cử người đến làm việc tại nhà tôi thông báo về việc P đào ngũ, lúc này P không có mặt ở nhà tôi, tôi có báo với đơn vị P đi đâu không biết, mục đích để đơn vị không tìm P nữa. Sau đó, gia đình tôi đã nhiều lần khuyên, động viên P trở lại đơn vị. Tôi có đưa P 500.000 đồng để P đón xe đi về lại đơn vị; việc P đi đâu, làm gì sau đó tôi không biết. P không có vi phạm gì trong thời gian ở nhà tôi.
Bà Nguyễn Thị Phi P1 (mẹ của bị cáo) cho biết: Ngày 15/3/2022, đơn vị có thông báo cho gia đình việc P trốn khỏi đơn vị. Sau đó, tôi biết P đang ở nhà con gái tôi khi con gái gọi điện báo. Tôi có động viên P quay lại đơn vị nhưng P không nghe. P rời khỏi nhà chị gái, sau đó đâu làm gì tôi không biết. Tôi đã nhận đầy đủ Quyết định xử lý kỷ luật, Thông báo đào ngũ, Quyết định truy nã đối với P và không có ý kiến gì.
Lời khai của Trần Đông Q: tôi biết P qua lời giới thiệu của anh Lê Công H. P đến nhà tôi ở và phụ bán cà phê được hơn một tháng. Tôi không biết P bị truy nã, trong thời gian P ở nhà tôi không có vi phạm pháp luật.
Cáo trạng số 02/CT-VKSQSKV52 ngày 03/02/2022 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 52 QK5 truy tố Phạm Duy P về tội "Đào ngũ" theo khoản 1 Điều 402 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Duy P. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; hậu quả của vụ án; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS); nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): áp dụng khoản 1 Điều 402; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Duy P từ 22 tháng tù đến 28 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 07/12/2022.
Bị cáo Phạm Duy P không có ý kiến tranh luận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện e38, f2, QK5 cho biết: hành vi đào ngũ của Phạm Duy P đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác giáo dục, quản lý bộ đội và hoạt động của đơn vị; việc xử lý kỷ luật vi phạm của P được thực hiện đúng quy định tại Thông tư số 16/2020/TT-BQP của Bộ Quốc Phòng.
Bị cáo nói lời sau cùng: hối hận về việc làm của mình; xin lỗi đơn vị. Mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 5 QK5, Điều tra viên, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 52 QK5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở khẳng định hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Sau khi thẩm tra lời khai của bị cáo và những người làm chứng. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xác định: Phạm Duy P nhập ngũ tháng 02/2022, được biên chế vào a5, b5, c6, d5, e38, f2, QK5. Trong thời gian công tác vì cảm thấy gò bó và không muốn tiếp tục phục vụ trong Quân đội, nên khoảng 04 giờ 45 phút ngày 15/3/2022, bị cáo tự ý rời bỏ đơn vị lẫn trốn ở nhiều địa phương, đến ngày 07/12/2022 bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã. Ngày 24/3/2022, đơn vị ra Quyết định số 01/QĐ-TĐ về việc thi hành kỷ luật “Cảnh cáo” đối với Phạm Duy P về hành vi “Đào ngũ” đúng quy định và thực hiện đầy đủ việc phối hợp truy tìm, ra thông báo đào ngũ về gia đình và địa phương nhưng quá 30 ngày P vẫn không quay lại đơn vị nên hành vi của P thuộc trường hợp “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” quy định tại khoản 4 Điều 42 Thông tư 16/2020/TT-BQP. HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Duy P phạm tội “Đào ngũ” quy định tại khoản 1 Điều 402 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân, làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và truyền thống tốt đẹp của người quân nhân.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án, tình tiết giảm nhẹ TNHS; nhân thân bị cáo. HĐXX xét thấy bị cáo nhập ngũ thời gian rất ngắn (27 ngày) nhưng đã thực hiện hành vi đào ngũ, vì vậy cần xử lý nghiêm, cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời làm bài học răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Phạm Duy P là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Duy P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 BLTTHS,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Duy P phạm tội "Đào ngũ".
Áp dụng khoản 1 Điều 402; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Duy P 24 (hai mươi tư) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 07/12/2022.
2. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS, bị cáo Phạm Duy P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/3/2023), bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự QK5./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSQSQK5; - VKSQSKV52 QK5; - Phòng THA QK5; - CQ ĐTHSKV5 QK5; - CQ THAHS QĐ3; - Trại tạm giam QĐ3; - Lưu: HSVA, THA. V09. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) 4/ Võ Hồng Ánh Vân |