vanban.org

Bản án 03/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V( Bank).

Buộc ông Cao Thế H và bà Lương Thị H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ tạm tính đến ngày 13/01/2023 là 992,706,788 đ trong đó tiền gốc là 791,370,171 đ và tiền lãi là 201,336,617 đ theo hợp đồng tín dụng số LN 2008182682784 ngày 12/10/2020 và Giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V( Bank).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 03/2023/DS-ST
Ngày: 13/01/2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Đức Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Cao Thị Thu Ngà, ông Cao Lương Bằng

- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: ông Phan Quang Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2022/TLST – DS ngày 04/8/2022 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST- DS ngày 12/12/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V ( Bank)

Trụ sở chính: số 89 L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D- Chủ tịch Hội đồng quản trị

Ông Ngô Chí D ủy quyền cho ông Đỗ Thanh T – chức vụ phó giám trung tâm xử lý nợ pháp lý (văn bản ủy quyền số 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020).

Ông Đào Tùng L – chuyên viên xử lý nợ là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 23/3/2022); có mặt.

2. Đồng bị đơn: ông Cao Thế H; sinh năm 1985, bà Lương Thị H; sinh năm 1987; địa chỉ: thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng lần thứ 02.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong khởi kiện ngày 23/03/2022 của Ngân hàng Bank và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện cho nguyên đơn ông Đào Tùng L trình bày: ngày 12/10/2020, ông Cao Thế H và bà Lương Thị H có vay vốn tại Ngân hàng VP Bank theo các hợp đồng với các nội dung cụ thể như sau:

1. Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2008182682784 ngày 12/10/2020: số tiền vay 872.000.000 đ; thời hạn vay 83 tháng; các kỳ hạn trả nợ: lãi trả và gốc vào ngày 15 hàng tháng; mục đích sử dụng: thanh toán tiền mua xe oto mới 100% nhãn hiệu PEUGEOT 5008 AT sản xuất năm 2020 phục vụ đi lại bản thân; lãi suất trong hạn: 9%/năm. Mức lãi suất này cố định trong vòng 12 tháng, sau thời gian này sẽ điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh và kỳ điều chỉnh được quy định trong hợp đồng tín dụng; lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% nợ trong hạn; phạt chậm lãi trả: theo quy định trong hợp đồng tín dụng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là xe ô tô PEUGEOT 5008 AT, số khung EP6ZLC116649, số máy 8910UF205G02, biển kiểm sát 73A – 180.01, theo giấy đăng ký xe ô tô số 031353 do phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 08/10/2020, mang tên ông Cao Thế H.

2. Giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ quốc tế không tài sản đảm bảo, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 15/8/2020 hạn mức 40.000.000 đ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Cao Thế H và bà Lương Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng Bank và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 22/02/2022, ông Cao Thế H và bà Lương Thị H còn nợ 840.962.968 đ.

Bank đề nghị Tòa án:

Buộc ông Cao Thế H và bà Lương Thị H phải thanh toán cho Bank toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 22/02/2022 là 840.962.968 đ.

Buộc ông Cao Thế H và bà Lương Thị H tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh kể từ sau ngày 22/02/2022 cho đến ngày ông H và bà H thực tế thanh toán hết nợ cho Bank.

Trường hợp ông H và bà H không thanh toán nợ theo yêu cầu của Bank nêu trên thì Bank có quyền tự xử lý hoặc yêu cầu có quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản đảm bảo khoản vay của ông H và bà H để thu hồi nợ

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được vì ông H và bà H không đến mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ

Ngày 21/11/2022, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản bảo đảm là chiếc xe ô tô PEUGEOT 5008 AT, số khung EP6ZLC116649, số máy 8910UF205G02, biển kiểm sát 73A – 180.01, tình trạng xe: mua mới năm 2020 đã sử dụng được 28.000 km, xe đang hoạt động tốt, anh H đang sử dụng chiếc xe này. Giá trị còn lại của chiếc xe tại thời điểm hiện tại là 943.727.400 đ.

Tại biên bản xác minh ngày 19/12/2022 của TAND huyện Minh Hóa thể hiện ông Cao Thế H có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án Minh Hóa, lý do không đến Tòa án để giải quyết vụ án là do bận công việc.

Ngày 27/12/2022, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án đối với Bank và ông H, chị H. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông H, bà H vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà với lý do vắng mặt đồng bị đơn.

Tại phiên toà:

- ông Đào Tùng L giữ nguyên quan điểm khởi kiện đề nghị ông H, bà H trả số tiền vay tại thời điểm xét xử là 992,706,788 đ trong đó tiền gốc là 791,370,171 đ và tiền lãi là 201,336,617 đ, nếu ông H và bà H không trả nợ thì Ngân hàng có quyền phát mại tài sản thế chấp. Đề nghị ông H và bà H thanh toán một lần cho Bank.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: về tố tụng: từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 68, 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: áp dụng Điều 26, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 280, 292, 299, 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 420 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề xuất: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H và bà H có nghĩa vụ trả nợ cho Bank số tiền 992,706,788 đ trong đó tiền gốc là 791,370,171 đ và tiền lãi là 201,336,617 đ. Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa phát mãi tài sản thế chấp chiếc xe ô tô PEUGEOT 5008 AT. Ông H và bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại tiền tạm ứng án phí cho Bank.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bank khởi kiện yêu cầu ông H và bà H phải trả khoản vay nợ của ngân hàng, tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại thôn Lâm Khai, xã Hóa Hợp, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Minh Hoá. Đồng bị đơn được triệu tập 02 lần đều vắng mặt, nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung:

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: ngày 12/10/2020, ông Cao Thế H và bà Lương Thị H có vay vốn tại Ngân hàng VP Bank theo 02 hợp đồng: hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN 2008182682784 ngày 10/10/2020: số tiền vay 872.000.000 đ; thời hạn vay 83 tháng; mục đích sử dụng: thanh toán tiền mua xe oto mới 100% nhãn hiệu PEUGEOT 5008 AT sản xuất năm 2020 phục vụ đi lại bản thân; lãi suất trong hạn: 9%/năm; lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% nợ trong hạn; phạt chậm lãi trả: theo quy định trong hợp đồng tín dụng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là xe ô tô PEUGEOT 5008 AT, số khung EP6ZLC116649, số máy 8910UF205G02, biển kiểm sát 73A – 180.01, theo giấy đăng ký xe ô tô số 031353 do phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 08/10/2020, mang tên ông Cao Thế H; giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ quốc tế không tài sản đảm bảo, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 15/8/2020 hạn mức 40.000.000 đ.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Cao Thế H và bà Lương Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng Bank và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng, tạm tính đến ngày 13/01/2023, ông Cao Thế H và bà Lương Thị H còn nợ 992,706,788 đ trong đó tiền gốc là 791,370,171 đ và tiền lãi là 201,336,617 đ.

Đối chiếu với các thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng, bảng kê tính lãi mà ngân hàng cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy mức lãi suất ngân hàng tính và yêu cầu ông H và H phải trả là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ký giữa hai bên, phù hợp với quy định của pháp luật trong lĩnh vực tín dụng cũng như quy định của Bộ luật dân sự về lãi suất, không gây bất lợi đối với bị đơn nên có cơ sở chấp nhận.

. Đối với việc xử lý tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của ông H và bà H là xe ô tô PEUGEOT 5008 AT, số khung EP6ZLC116649, số máy 8910UF205G02, biển kiểm sát 73A – 180.01, theo giấy đăng ký xe ô tô số 031353 do phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 08/10/2020, mang tên ông Cao Thế H. Hội đồng xét xử xét thấy việc thế chấp tài sản đã đúng quy định của pháp luật nên trong trường hợp ông H và bà H không chịu trả nợ thì Bank có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là phù hợp với Điều 299 của Bộ luật dân sự năm 2015.

. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: số tiền 4.000.000đ. Theo quy định tại Điều 158 và Điều 166 đương sự không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nếu yêu cầu của họ được chấp nhận. Cần buộc ông H và bà H phải trả cho Bank số tiền 4.000.000 đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

. Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải nộp tiền án phí. Bị đơn ông H và bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

. Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27, 33 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 299, 317, 318, 319, 323, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 91; khoản 2, 4 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm;

Căn cứ Điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V( Bank).

2. Buộc ông Cao Thế H và bà Lương Thị H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ tạm tính đến ngày 13/01/2023 là 992,706,788 đ trong đó tiền gốc là 791,370,171 đ và tiền lãi là 201,336,617 đ theo hợp đồng tín dụng số LN 2008182682784 ngày 12/10/2020 và Giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ quốc tế không tài sản đảm bảo, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 15/8/2020.

Phương thức và thời hạn thanh toán: một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Xử lý tài sản thế chấp: trường hợp ông Cao Thế H và bà Lương Thị H không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank) thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật là xe ô tô PEUGEOT 5008 AT, số khung EP6ZLC116649, số máy 8910UF205G02, biển kiểm sát 73A – 180.01, theo giấy đăng ký xe ô tô số 031353 do phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 08/10/2020, mang tên ông Cao Thế H để thu hồi nợ.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: ông Cao Thế H và bà Lương Thị H phải trả lại cho Bank số tiền 4.000.000 đ.

5. Về án phí: ông Cao Thế H và bà Lương Thị phải chịu 41.781.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Bank số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 21.000.000 đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000646 ngày 03/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

6. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/01/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ