vanban.org

Bản án 03/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 11/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/ HS-ST
Ngày: 11/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tuất.

Ông Nguyễn Đức Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 326/2021/TLST- HS ngày 09/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 326/2021/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Anh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1977 tại Hà Nội; HKTT: Thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội; Chỗ ở: Xóm Q, thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Họ tên bố: Đỗ Văn S - Sinh năm: 1950; Họ tên mẹ: Đỗ Thị Ch - Sinh năm: 1954; Gia đình có 02 chị em, bị can là con thứ Hai; Họ tên vợ: Vũ Thị H - Sinh năm: 1978 (Đã ly hôn); Con: 01 con sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: 03 tiền án, 01 tiền sự.

*Tiền án:

- Ngày 12/05/2004, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Án số 20/2004/HSST) - (Trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng - Đã xóa án tích);

- Ngày 28/07/2010, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Án số 95/2010/HSST; Đã xóa án tích);

- Ngày 25/04/2016, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Án số 219/2016/HSST; Đã xóa án tích).

*Tiền sự: 01 tiền sự đã hết thời hiệu xử lý.

Danh chỉ bản số 375 do Công an huyện T lập ngày 26/08/2021.Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 17/08/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Nam H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không;

Sinh năm: 1981 tại Hà Nội; HKTT: 457-D7, Phường Q, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Họ tên bố: Nguyễn Đoan H (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1951; Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ Hai; Họ tên chồng: Nguyễn N L - Sinh năm: 1979; Con: 03 con (sinh năm 2012, 2013, 2017).

Tiền án, tiền sự: 02 tiền án, 01 tiền sự.

*Tiền án:

- Ngày 27/08/2009, Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Án số 309/2009/HSST; Đã xóa án tích).

- Ngày 20/08/2012, Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Án số 405/2012/HSST; Đã xóa án tích);

*Tiền sự: 01 tiền sự đã hết thời hiệu xử lý.

Danh chỉ bản số 374 do Công an huyện T lập ngày 26/08/2021. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an TP Hà Nội. (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đỗ Minh N – sinh năm 1997; Địa chỉ: số 10 ngõ 36 phố T, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt).

2. Anh Lê Duy A – sinh năm 1995; Địa chỉ: số 13 phố T, phường B, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Huy S – sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a) Về hành vi phạm tội của bị cáo: Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H có mối quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng tại nhà của T ở Thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội. Ngày 13/08/2021, T đi đến khu vực Bến xe phía Nam (Bến xe Giáp Bát) gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy “đá” với giá 300.000 đồng. Mua xong, T cất giấu gói ma túy trên tại nhà của T để sử dụng dần. Khoảng 00h15’ ngày 15/08/2021, Nguyễn Huy S (Sinh năm: 1992; HKTT: Thôn Q, xã V, T, Hà Nội) đi bộ đến nhà của T và ngồi chơi, nói chuyện. Khoảng 05h30’ cùng ngày, S gọi điện thoại và bảo bạn gái là Đỗ Minh N (Sinh năm: 1997; HKTT: đường T, H, Hà Nội) đến đón. N đồng ý. Khoảng 10 phút sau, Lê Duy A (Sinh năm: 1995; HKTT: Phường B, H, Hà Nội; là cháu của N) điều khiển xe môtô chở N đến nhà của T đón S rồi cùng nhau đi đến nhà chị của N để ăn cơm. Tại thời điểm Duy A chở S và N đến nhà chị của N thì gặp Nguyễn Thị Nam H đi từ H, Phường Q, quận H, Hà Nội về nhà của T. Khoảng 10h30’ cùng ngày, T ngồi ở nhà chơi điện tử trên mạng và được phần thưởng. Do không biết cách nhận thưởng, T đã gọi điện thoại nhờ S đến nhận phần thưởng giúp T. S đồng ý và cùng Duy A, N đi đến nhà của T. Trước khi nhóm của S đến, T đưa gói ma túy “đá” mua được trước đó cho H và nói “cầm lấy tý lấy ra mời các cháu sử dụng”. H cầm và cất giữ gói ma túy trên. Một lúc sau thì Duy A điều khiển xe môtô chở S và N về đến nhà của T thì T là người ra mở cổng cho nhóm của S vào nhà. Sau khi S đổi được phần thưởng cho T thì H lấy gói ma túy “đá” mà T đưa trước đó và để ra giữa đệm nơi S, N, Duy A đang ngồi và nói “ở nhà này thứ khác có thể thiếu chứ đồ thì không bao giờ thiếu”. Cùng lúc này thì T đi ra từ phòng vệ sinh rồi lấy 01 bình ga, 01 bình khò, 01 ống coóng và 01 chai nhựa chế tạo thành 01 tẩu hút tự chế. Sau đó, T để tẩu hút tự chế trên đệm và bảo mọi người sử dụng gói ma túy “đá” nêu trên. S liền lấy ma túy rồi cho vào tẩu hút tự chế, đốt lên để sử dụng. Sau đó, S, N và Duy A cùng nhau sử dụng ma túy “đá” bằng dụng cụ và ma túy do T và H cung cấp. T và H cũng sử dụng ma túy cùng với S, Duy A và N. Sau khi sử dụng ma túy xong thì S, Duy A và N đi về. Trước khi về, S có xin T chiếc coóng vừa dùng để sử dụng ma túy và được T đồng ý. Sau đó, S cất giấu chiếc coóng nêu trên vào túi quần phía trước bên trái S đang mặc rồi cùng Duy A và N điều khiển môtô đi về.

Hồi 12h30’ ngày 15/08/2021, tổ công tác Công an xã Tứ Hiệp phối hợp với Công an huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực Ngã tư đường Nguyễn Bặc - Tứ Hiệp thuộc địa phận xã T, T, Hà Nội phát hiện Lê Duy A điều khiển xe môtô BKS: 30L5-3426, sau xe chở Đỗ Minh N và Nguyễn Huy S có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại túi quần phía trước bên trái của S có 01 ống coóng thủy tinh nghi là công cụ để sử dụng ma túy nên đã tiến hành lập biên bản, thu giữ niêm phong chiếc coóng thủy tinh của S và đưa S, Duy A, N về trụ sở Công an để giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen, bên trong có 02 sim (Sim 1: 0947.039.185; Sim 2: 0904.588.392); thu giữ của N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám; 01 điện thoại di động Iphone 8 màu vàng, bên trong có 01 sim số: 0376755597; thu giữ của Duy A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen, bên trong có 01 sim số: 0854159195.

Ngày 16/08/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 coóng thủy tinh thu giữ của Nguyễn Huy S.

Tại Bản Kết luận giám định số 6439/KLGĐ-PC09 ngày 25/08/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

Hồi 20h00’ ngày 15/08/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Anh T tại Thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội. Quá trình khám xét, tổ công tác phát hiện và thu giữ:

- Tại ngăn thứ hai của tủ phấn cạnh cửa ra vào: 01 cuộn băng dính đen; 01 đầu thủy tinh hoa văn có một đầu dạng ống hút kích thước khoảng 04 cm; 02 ống hút màu xanh, 01 ống hút màu tím; 01 ống hút màu đen.

- Tại gầm tủ tivi: 01 cân điện tử màu xám; 20 túi nilông KT (4x6)cm; 30 túi nilông KT (1x2)cm.

- Tại ngăn thứ hai kệ để đồ sát cửa nhà vệ sinh: 10 ống thủy tinh, 02 đầu khò, 01 bình ga mini hiệu Maxvina.

Tổ Công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong toàn bộ tang vật và đưa Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H về trụ sở để giải quyết. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu đen, bên trong có 02 sim (Sim 1: 0963637563; Sim 2: 0969806097); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 màu vàng; bên trong có 01 sim số: 0359172811; thu giữ của H: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong có 02 sim (Sim 1: 0986007981; Sim 2: 0353761556); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 2+ màu xanh.

Ngày 16/08/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số tang vật được thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Anh T.

Tại Bản Kết luận giám định số 6440/KLGĐ-PC09 ngày 25/08/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- 01 đầu ống thủy tinh dài 04 cm và 04 ống nhựa đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

- 01 cân điện tử không dính chất ma túy.

- 10 ống thủy tinh đều không dính chất ma túy.

Ngày 16/08/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Huy S, Lê Duy A, Đỗ Minh N, Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H.

Tại Bản Kết luận giám định số 6440(A)/KLGĐ-PC09 ngày 25/08/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Trong 05 mẫu nước tiểu thu của các đối tượng: Nguyễn Huy S, Lê Duy A, Đỗ Minh N, Đỗ Anh T, Nguyễn Thị Nam H đều có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu, Nguyễn Thị Nam H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của H phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được. Sau đó, H thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi như đã nêu trên.

Lời khai ban đầu của H khai phù hợp với lời khai ban đầu của Đỗ Anh T về việc T là cung cấp ma túy và chuẩn bị dụng cụ cho S, N và Duy A sử dụng ma túy.

H thay đổi lời khai về việc H không sử dụng ma túy, không có hành vi cung cấp ma túy, không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của T.

Tại lời khai ban đầu của Đỗ Anh T, T khai nhận: Khi Nguyễn Huy S đổi được phần thưởng cho T thì S nói “Cháu đổi thưởng cho chú xong thì chú cho cháu cái gì”. Thấy vậy, T lấy 01 túi ma túy “đá” ở đầu giường gần cửa ra vào đưa cho S để cùng S, N và Duy A sử dụng. S là người bỏ ma túy vào tẩu hút do T tự chế rồi đốt lên cho mọi người sử dụng, H không sử dụng ma túy. Sau đó, T thay đổi lời khai về việc khi S nói “Cháu đổi thưởng cho chú xong thì chú cho cháu cái gì” thì tại thời điểm trên, T đang sử dụng ma túy “đá” nên đã bảo S sử dụng nốt số ma túy còn lại, H không sử dụng ma túy, còn N và Duy A có sử dụng ma túy không thì T không biết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập được, có đủ căn cứ xác định Nguyễn Thị Nam H cùng Đỗ Anh T cung cấp ma túy và dụng cụ cho Nguyễn Huy S, Đỗ Minh N, Lê Duy A sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Đỗ Anh T. Việc thay đổi lời khai của Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H là không có căn cứ.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đỗ Anh T, T khai không biết họ tên và địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Nguyễn Huy S, Lê Duy A và Đỗ Minh N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

b) Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với 01 cuộn băng dính đen; 01 đầu ống thủy tinh dài 04 cm; 04 ống nhựa; 01 cân điện tử; 20 túi nilông KT (4x6)cm; 30 túi nilông KT (1x2)cm; 10 ống thủy tinh; 02 đầu khò ga; 01 bình ga mini hiệu Maxvina, thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Anh T, T khai nhặt được ở bãi rác bên đường cách thời điểm kiểm tra, bắt giữ khoảng 01 tuần, mục đích nhặt về để tận dụng vào việc sử dụng cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 màu vàng tạm giữ của Đỗ Anh T; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 2+ màu xanh tạm giữ của Nguyễn Thị Nam H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám; 01 điện thoại di động Iphone 8 màu vàng tạm giữ của Đỗ Minh N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen tạm giữ của Lê Duy A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen tạm giữ của Nguyễn Huy S, các đối tượng khai không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine tạm giữ của Nguyễn Huy S, quá trình điều tra xác định là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

c) Trích dẫn cáo trạng: Tại bản cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H thành khẩn khai nhận hành vi của mình đúng như bản cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo Đỗ Anh T từ 8 năm đến 9 năm tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nam H từ 7 năm đến 8 năm tù; Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015; Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cuộn băng dính đen; 01 đầu ống thủy tinh dài 04 cm; 04 ống nhựa; 01 cân điện tử; 20 túi nilông KT (4x6)cm; 30 túi nilông KT (1x2)cm; 10 ống thủy tinh; 02 đầu khò ga; 01 bình ga mini hiệu Maxvina, 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

Trả lại cho bị cáo Đỗ Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 màu vàng ; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Nam H 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 2+ màu xanh; Trả lại cho Đỗ Minh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám; 01 điện thoại di động Iphone 8 màu vàng; Trả lại cho Lê Duy A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen; Trả lại cho Nguyễn Huy S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biªn b¶n t¹m gi÷ ®å vËt tµi liÖu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định... cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh:

Buổi trưa ngày 15/08/2021, tại nhà của Đỗ Anh T ở thôn Thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội, Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H đã tổ chức cho Nguyễn Huy S, Đỗ Minh N và Lê Duy A sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Đối với 02 người trở lên;

..."

Hành vi của bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015.

Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của nó nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Nhân thân của các bị cáo có nhiều tiền án về ma túy. Mặc dù đã được xóa án tích và bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân vẫn cố ý thực hiện việc tổ chức sử dụng ma túy trái phép cho nhiều người. Điều này chứng tỏ các bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, cũng giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cuộn băng dính đen; 01 đầu ống thủy tinh dài 04 cm; 04 ống nhựa; 01 cân điện tử; 20 túi nilông KT (4x6)cm; 30 túi nilông KT (1x2)cm; 10 ống thủy tinh; 02 đầu khò ga; 01 bình ga mini hiệu Maxvina, 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

Trả lại cho bị cáo Đỗ Anh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 màu vàng ; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Nam H 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 2+ màu xanh; Trả lại cho Đỗ Minh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám; 01 điện thoại di động Iphone 8 màu vàng; Trả lại cho Lê Duy A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen; Trả lại cho Nguyễn Huy S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen.

Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Huy S, Lê Duy A và Đỗ Minh N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

- Phần nhận định và đề nghị của đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng: Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015:

- Xử phạt bị cáo Đỗ Anh T 07 năm 06 tháng (Bẩy năm sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/08/2021.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Nam H 07 năm (Bẩy năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/08/2021.

3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H.

4. Xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Huy S và Công an xã Tứ Hiệp.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 cân điện tử, 04 ống nhựa, 01 đầu ống thủy tinh, 10 ống thủy tinh bên ngoài có chữ ký của giám định viên, người chứng kiến Nguyễn Thị Khuyên, Trần Thị Hằng, cán bộ CSĐTTP ma túy.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 20 túi nilong kích thước 4x6cm, 30 túi nilong kích thước 1x2cm, 01 bình ga mini, 02 đầu khò ga, 01 cuộn băng dính mầu đen bên ngoài có chữ ký của Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H.

- Trả lại cho bị cáo Đỗ T Anh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6700 màu vàng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H Nam 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy 2+

- Trả lại cho Đỗ Minh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s (Màn hình đã vỡ); 01 điện thoại di động Iphone 8 màu vàng; Trả lại cho Lê Duy A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đen (Tại thời điển nhận máy không lên nguồn để kiểm tra bên trong); Trả lại cho Nguyễn Huy S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen.

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/01/2022 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

5. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136; 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Bị cáo Đỗ Anh T và Nguyễn Thị Nam H mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai bản án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ