- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Long T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tuyên tịch thu tiệu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VAG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày: 18-01-2022 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VAG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Ah
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hùng
Ông Lê Văn Bút
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa VAg, TP. Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần M QuAg - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa VAg, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân huyện Hòa VAg xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 05/01/2022, đối với bị cáo:
Trần Long T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 29/4/1996, tại tỉnh Quảng Nam
Nơi thường trú: Thôn 1, xã Điện P, thị xã Điện B, tỉnh Quảng N. Nơi tạm trú: Tổ 2, thôn Đ, xã Hòa N, huyện Hòa V, TP.Đà Nẵng.
Nghề nghiệp: Lao động P thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu B và bà Nguyễn Thị X (cả hai đều còn sống). Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thu T và có 01 con, sinh ngày 28/01/2019;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA:
1. Ông Văn M T, sinh năm 1992
Hộ khẩu thường trú: Xóm A, thôn A T, xã P A, thị xã Đức P, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
2. Ông Ngô Trọng M, sinh năm 1999
Trú tại: Tổ 8, thôn Hạ T, Điện P, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam; có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Ông Trần Văn K sinh năm 2000
Trú tại: Thôn C, xã Điện P, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam; có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984
Trú tại: Thôn 3, Điện P, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1999
Nơi cư trú: Thôn 1, xã Điện P, thị xã Điện B, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 02/2021, thông qua mạng xã hội Facebook Trần Long T biết được Nguyễn Thọ M có nguồn thuốc lá điếu, hiệu No.555 nhập từ Campuchia về bán với giá 13.000 đồng/01 bao. Nhận thấy, giá thuốc lá điếu do M bán rẻ nên T đặt mua để về bán lại kiếm lời. T cung cấp số điện thoại 0934.847.834 để M liên hệ giao thuốc, sau đó M gửi thuốc lá điếu cho xe ôtô khách chạy tuyến Bắc - Nam để giao cho T tại Đà Nẵng. Sau khi nhận được thuốc lá điếu, T thAh toán trực tiếp cho nhà xe hoặc chuyển khoản cho M qua số tài khoản do M cung cấp. Số thuốc mua được T bán lại cho người khác (Hiện không xác định được lai lịch và nhân dạng cụ thể) với giá 15.000 đồng/01 bao.
Ngày 28/5/2021, T đặt mua của M 12 thùng thuốc lá điếu, hiệu No.555, có số lượng là 5.980 bao với tổng số tiền là 78.000.000 đ (bảy mươi tám triệu đồng). Hình thức thAh toán là chuyển khoản sau khi nhận được hàng. Sáng ngày 29/5/2021, sau khi xuống hàng tại Cây xăng dầu số 21 trên đường Tránh Nam Hải Vân, thuộc địa phận xã Hòa N, huyện Hòa VAg, TP.Đà Nẵng thì nhà xe gọi điện báo cho T đến để nhận hàng. Lúc này, T thuê Ngô Trọng M và Trần Văn Khôi đi từ Quảng Nam đến địa điểm trên chở hàng về cho T, với tiền công là 250.000 đồng/người. Khi đi chở hàng T không nói cho Khôi và M biết là chở hàng gì. Vào lúc 12 giờ 30 ngày 28/5/2021, khi T, M và Khôi đAg khuân các thùng carton đựng thuốc lá điếu lên các xe môtô tại Cây xăng số 21 nêu trên thì bị lực lượng Cảnh sát kinh tế Công A TP Đà Nẵng phối hợp Công A xã Hòa N, huyện Hòa VAg kiểm tra phát hiện bắt giữ.
Tại kết luận giám định số: 643, ngày 06/7/2021 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ Công A tại TP.Đà Nẵng xác định: Trong 5.980 bao thuốc lá hiệu No.555 thu giữ gửi giám định có:
- 2.480 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) không phải là thuốc lá được sản xuất tại Việt Nam.
- 3.000 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Original (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) không phải là thuốc lá được sản xuất tại Việt Nam.
- 500 bao thuốc lá điếu hiệu No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) có tem thuốc lá Việt Nam không phải là thuốc lá được sản xuất tại Việt Nam do sử dụng tem, nhãn mác giả.
TAg vật tạm giữ:
- 12 thùng carton bên trong chứa 5.980 bao thuốc lá hiệu No.555 (Trong đó, có 5.480 bao thuốc lá ghi tiếng nước ngoài, 500 bao thuốc lá ghi tiếng Việt).
- 01 xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 43C1-67923 của Trần Văn Khôi.
- 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 92D1-75214 của Ngô Trọng M.
- 01 xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093 của Trần Long T.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu tím của Ngô Trọng M.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu vàng –hồng (Không có thẻ sim) của Trần Long T.
- 01 điện thoại di động hiệu Sam sung màu xAh-đen của Trần Văn Khôi.
Ngoài ra, quá trình điều tra T còn khai nhận, trước khi bị bắt T đã từng 02 lần mua thuốc lá điếu nhâp lậu của Nguyễn Thọ M về bán lại cho người khác để kiếm lời, hình thức thAh toán cho người bán là gửi tiền mặt cho nhà xe vận chuyển hàng (Hiện không xác định được biển kiểm soát cũng như chủ xe vận chuyển và người mua thuốc của T).
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 20/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Long T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Long T và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Long T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và xử phạt Trần Long T từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù. Thời giA chấp hành án tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử lý vật chứng:
- Đề nghị tuyên tịch thu tiệu hủy: 2.350 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp); 2850 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Original (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp); 470 bao thuốc lá điếu hiệu No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) hoàn lại sau khi giám định.
- Đề nghị tuyên sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu vàng – hồng; 01 xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093, của bị cáo Trần Long T.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 43C1-61923; xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 92D1-75214; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Oppo màu tím và 01 điện thoại di động hiệu Sam sung màu xAh-đen: Qua điều tra xác định không liên quA đến hành vi phạm tội của bị cáo T nên Cơ quA điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở nên không đề cập đến.
- Đề nghị Hội đồng xét xử, truy thu số tiền 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đồng) bị cáo Trần Long T đã sử dụng để mua thuốc lá của Nguyện Thọ M.
Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Trần Long T thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố bị cáo, xác định việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg là đúng với tính chất và hành vi phạm tội; quá trình điều tra, truy tố cơ quA và người tiến hành huyện Hòa VAg và thành phố Đà Nẵng thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Nhưng không đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát về việc truy thu số tiền 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đồng) và tịch thu sung công chiếc xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì con nhỏ, vợ lại đAg mAg thai, bị cáo là lao động chính trong gia đình và hiện có nhiều bệnh mãn tính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA gồm các ông (bà) Văn M T, Ngô Trọng M, Trần Văn K Nguyễn Thị N đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt và trong hồ sơ vụ án đã có lời khai nhưng người vắng mặt. Do vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt của những nguời trên.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA cảnh sát điều tra Công A thành phố Đà Nẵng, Cơ quA cảnh sát điều tra Công A huyện Hòa VAg, Điều tra viên Công A thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên Công A huyện Hòa VAg, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo Trần Long T khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA, biên bản khám nghiệm hiện T và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Mặc dù biết rõ thuốc lá điếu hiệu No.555 nhập lậu là mặt hàng cấm, nhưng vì muốn thu lợi bất chính từ việc mua về bán lại để hưởng giá chênh lệch nên vào ngày 28/5/2021, bị cáo Trần Long T liên hệ qua mạng xã hội facebook mua của đối tượng tên Nguyễn Thọ M 5.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu No.555 với giá 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đồng), hình thức thAh toán là sau khi T nhận được hàng sẽ chuyển khoản cho M. Tuy nhiên, khi xe ô tô khách vận chuyển hàng đến để lại tại Cây xăng dầu số 21 trên đường Tránh Nam Hải Vân thuộc địa phận xã Hòa N, huyện Hòa VAg, TP.Đà Nẵng vào ngày 29/5/2021 và khi T chuẩn bị vận chuyển hàng về thì bị phát hiện bắt giữ. TAg vật thu giữ là 5.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu No.555.
Hành vi trên của bị cáo Trần Long T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Trần Long T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự là hoàn T có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Trần Long T thì thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doAh một số loại hàng cấm, gây thiệt hại đến trật tự quản lý thị T sản xuất kinh doAh, gây lũng đoạn thị T trong nước dẫn đến Nhà nước không kiểm soát được hàng hóa, ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội, bị cáo buôn bán hàng cấm với số lượng 5.980 bao thuốc lá, hiệu No.555 nên đã vi phạm vào điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời giA mới có tác dụng cải tạo, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:
Bị cáo là người đã đủ tuổi trưởng thành, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông bà cố nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng Bảng vàng gia đình vẻ vAg; có ông nội hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước công nhận Liệt sỹ; có bà nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước công nhận Hội viên hội tù đày yêu nước và được tặng Huân chương kháng chiến hạng III; có bà nội thứ ở cùng gia đình tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng III. Bản thân bị cáo T có công trong việc tố giác tội phạm và được Cơ quA điều tra Công A tỉnh Đắk Nông (PC 02) xác nhận có thành tích trong tố giác tội phạm, bị cáo hiện có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, vợ lại đAg mAg thai, bị cáo là lao động chính, bản thân lại có nhiều bệnh mãn tính. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định.
Về xử lý tAg vật:
- Đối với 2.350 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp); 2850 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Original (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp); 470 bao thuốc lá điếu hiệu No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) hoàn lại sau khi giám định, đây là tAg vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiệu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu vàng –hồng, đây là tAg vật của vụ án liên quA đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093, không liên quA đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Trần Long T.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 43C1-61923; xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 92D1-75214; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Oppo màu tím và 01 điện thoại di động hiệu Sam sung màu xAh-đen: Qua điều tra xác định không liên quA đến hành vi phạm tội của bị cáo T nên Cơ quA điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Ngoài ra trong vụ án này còn có:
- Quá trình điều tra, bị cáo T còn khai nhận trước khi bị bắt T đã từng 02 lần mua thuốc lá điếu nhâp lậu của Nguyễn Thọ M về bán lại cho người khác để kiếm lời, hình thức thAh toán cho người bán là gửi tiền mặt cho nhà xe vận chuyển hàng (Hiện không xác định được biển kiểm soát cũng như chủ xe vận chuyển và người mua thuốc của T) khi nào điều tra được xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Đối với số điện thoại liên quA đến việc liên hệ giao nhận hàng giữa nhà xe vận chuyển với bị cáo T hiện không xác định được, khi nào xác định được sẽ làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Đối với số điện thoại 0934.847834, bị cáo T sử dụng liên hệ mua thuốc lá điếu nhập lậu: Qua điều tra xác định khi bị cáo T mua số thuê bao này đã được kích hoạt sẵn với tên chủ thuê bao là Văn Đức T, sinh năm 1992; trú tại xã P A, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, số chứng M nhân dân: 212258984. Cơ quA điều tra Công A huyện Hòa VAg đã ủy thác điều tra nhưng hiện không xác định được T đAg ở đâu, làm gì, khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Đối với đối tượng tên Nguyễn Thọ M là người đã liên hệ bán thuốc lá cho bị cáo T, hiện chưa xác định được lai lịch và nhân dạng cụ thể, khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Đối với 02 lần mua bán thuốc lá trước đây của bị cáo T cũng như người mua thuốc của T hiện không xác định được lai lịch cụ thể; đồng thời, cơ quA điều tra cũng không thu được tAg vật nên khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Đối với Ngô Trọng M và Trần Văn Khôi là những người được bị cáo T thuê chở hàng, qua điều tra xác định M và Khôi không biết trước số hàng mà T thuê chở là thuốc lá nhập lậu nên Cơ quA điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Đối với các số tài khoản ngân hàng do bị cáo T đứng tên qua điều tra xác định không liên quA đến hành vi phạm tội nên Cơ quA điêu tra không đề cập xử lý là có có sở nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa VAg tại phiên tòa về căn cứ điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo và về xử lý một số tAg vật là phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình. Tuy nhiên, đối với đề nghị truy thu số tiền 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đồng) đối với bị cáo T và tịch thu sung công 01 xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093 của bị cáo Trần Long T. Hội đồng xét xử xét thấy, số tiền 78.000.000đ (bảy mươi tám triệu đông) là tiền bị cáo Trần Long T thỏa thuận mua thuốc lá của Nguyện Thọ M, nhưng giữa T và M thỏa thuận khi nào T nhận được thuốc lá thì M mới cho số tài khoản để chuyển tiền, T vừa đến địa điểm nhận hàng thì bị Công A bắt giữ, M chưa cho T số tài khoản, T chưa chuyển tiền cho M; hơn nữa Công A đã tịch thu tAg vật của vụ án là tất cả số thuốc lá lậu, bị cáo chưa mAg ra thị T bán nên chưa sinh lợi (tiền thu lợi bất chính); đối với xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093 bị cáo làm P tiện đi từ nhà đến địa điểm xe khách báo nhận hàng, bị cáo không sử dụng và cũng không có ý thức sử dụng vào việc vận chuyển thuốc lá lậu, khi Công A bắt thì bị cáo và M, Khôi đAg vận chuyển thuốc lá lên xe mô tô của Khôi và M, đo đó việc đề nghị của đại diện viện kiểm sát là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về án hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Long T phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3, Điều 190; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Long T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Long T 05 (năm) năm tù. Thời giA chấp hành án tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về án phí sình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Long T phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tuyên tịch thu tiệu hủy: 2.350 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp); 2850 bao thuốc lá điếu hiệu Blend No.555 Original (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp); 470 bao thuốc lá điếu hiệu No.555 Gold (Loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp) hoàn lại sau khi giám định.
- Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu vàng –hồng.
- Tuyên trả: 01 xe mô tô hiệu Vespa Sprints, biển kiểm soát 92D1-41093 cho bị cáo Trần Long T.
Các tAg vật trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa VAg, thành phố Đà Nẵng đAg cất giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/12/2021.
5. Về thời hạn kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA bà Nguyễn Thị Thu T có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/01/2022.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
T hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - Công A huyện Hòa VAg; - VKSND huyện Hòa VAg; - TAD thành phố Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng; - Chi cục THADS huyện Hòa VAg; - Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Ah |