- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 - Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày: 20-11-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông: Hoàng Thăng Bắc.
- Bà: Hoàng Thị Thào.
- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hà Hữu Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2021/TLST-HS, ngày 20 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Nông Văn H, sinh ngày: 02/3/1985 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Thanh T và bà Nông Thị V; Vợ: Đinh Thị Th và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2020 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Chiên - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đinh Thị Th, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Ông Nông Thanh T, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Những người chứng kiến:
- Ông Nông Đức H, sinh năm 1961. Vắng mặt.
- Ông Lý Văn L, sinh năm 1974. Vắng mặt.
- Ông Đặng Phúc V, sinh năm 1974. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 26/5/2020, bị cáo Nông Văn H từ nhà điều khiển xe môt tô biển kiểm soát 97B1-864.90 chở con đi học tại trường tiểu học xã M, huyện B. Sau đó H điều khiển xe máy đi về thành phố B, đến khu vực cầu đen thành phố B để tìm mua ma túy về để sử dụng, tại đây bị cáo H gặp một người đàn ông bị cáo H không biết họ tên, địa chỉ và hỏi “Biết ở chỗ nào có bán ma túy không” thì giới thiệu cho bị cáo H, người đàn ông này gọi điện thoại cho ai đó rồi bảo bị cáo H đi ra khu vực đường vào bãi rác thành phố B gặp một người phụ nữ mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm, bị cáo làm theo lời chỉ dẫn của người đàn ông này và gặp người phụ nữ có đặc điểm giống như người đàn ông nói, bị cáo H đưa cho người phụ nữ đó số tiền 2.650.000đ (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và người phụ nữ đưa cho bị cáo H 01 gói ma túy (Heroine). Sau khi mua được ma túy bị cáo H cất vào túi quần đằng trước bên phải, trên đường về đến thôn P, xã M, huyện B thì bị tổ công tác công an huyện B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy dạng cục màu trắng và niêm phong vào phong bì ký hiệu A1. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo Hùng 01 xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 864.90 và 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen trắng, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B đã khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của bị cáo Nông Văn H ở thôn N, xã M, huyện B. Kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo Nông Văn H.
Tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lượng 01 gói chứa chất dạng cục màu trắng thu giữ của bị cáo Nông Văn H được 6,59 gam. Đã niêm phong phong bì, giấy gói cũ vào phong bì ký hiệu B2 và niêm phong 6,59 gam chất dạng cục màu trắng vào phong bì ký hiệu B1 để trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định.
Tại Kết luận giám định số: 80/KTHS-MT ngày 30/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất dạng cục màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 6,59g (Sáu phẩy năm chín gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 5,25g ( Năm phẩy hai năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T80 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B quản lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSBB ngày 19/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nông Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nông Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Nông Văn H theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 05 năm tù đến 06 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền bị cáo Nông Văn H 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 29, Điều 33 Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 244 Bộ luật Dân sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong bản luận tội và không có ý kiến tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Th đề nghị lấy lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 97B1 - 864.90 vì cho rằng đó là tài sản riêng của chị Th. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa ông Nông Thanh T là bố đẻ bị cáo đã xuất trình một biên lai thu tiền nộp để thi hành án cho bị cáo, số tiền này bị cáo đã tác động ông T nộp thay cho bị cáo. Do vậy, đưa ông T tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa những người chứng kiến vắng mặt nhưng tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nông Văn H đều thừa nhận: Ngày 26/5/2020, qua giới thiệu của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại cầu đen của thành phố B, bị cáo Nông Văn H mua 01 gói ma túy heroine với giá 2.650.000đ (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của một người phụ nữ không biết họ tên, địa chỉ ở đường vào bãi rác của thành phố B. Mua được ma túy (Heroine) bị cáo H cất vào túi quần đằng trước bên phải, trên đường về nhà đến thôn P, xã M, huyện B thì bị tổ công tác công an huyện B phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (Heroine) có khối lượng 6,59g (Sáu phẩy năm chín gam). Do bản thân là người nghiện ma túy nên mục đích bị cáo H mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nông Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngày 20/11/2020 bố của bị cáo là ông Nông Thanh T đã nộp số tiền 200.000 đồng với mục đích tạm ứng để thi hành án cho bị cáo, tại phiên tòa bị cáo khai đã tác động ông T nộp số tiền này. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không thuộc đối tượng hộ nghèo, cận nghèo nên cần thiết phải có hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về bồi thường thiệt hại: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Th không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo tác động bố đẻ là ông Nông Thanh T nộp thay cho bị cáo, tại phiên tòa ông T không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
* Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng và cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ ký.
- 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T80 bên trong phong bì có chứa: Mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 5,25g cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Nông Văn H (1985) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T80”, mặt sau có 02 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.
* Đối với 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen trắng, điện thoại cũ đã qua sử dụng là tài sản thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
* Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 97B1 - 864.90, đây là chiếc xe bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Hội đồng xét xử nhận thấy: Chiếc xe này hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Nông Văn H và chị Đinh Thị Th. Việc bị cáo H sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy chị Th không biết. Chị Đinh Thị Th cho rằng đây là tài sản riêng của chị Th nhưng không có căn cứ để chứng minh nên yêu cầu trả lại chiếc xe cho chị Th là không có căn cứ để chấp nhận. Chiếc xe mô tô trên là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu hóa giá, một phần hai giá trị chiếc xe được sung vào ngân sách Nhà nước và một phần hai giá trị chiếc xe trả lại cho chị Đinh Thị Th.
* Đối với số tiền 200.000 đồng bố của bị cáo là ông Nông Thanh T nộp cho bị cáo tạm ứng để thi hành án theo biên lai thu tiền số 03637 ngày 20/11/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/10/2020 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn).
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H có khai có một người đàn ông giới thiệu bị cáo chỗ mua ma túy Heroine và một người phụ nữ bán ma túy Heroine cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo H không rõ họ tên, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xử lý. Đối với chị Đinh Thị Th không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 29, Điều 33 của Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 244 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
1 - Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nông Văn H 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/5/2020).
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nông Văn H 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
2 - Về xử lý vật chứng:
* Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng và cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ ký.
- 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T80 bên trong phong bì có chứa: Mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 5,25g cùng phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Nông Văn H (1985) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T80”, mặt sau có 02 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.
* Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen trắng, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
* Tịch thu hóa giá 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 97B1 - 864.90, đăng ký tên Đinh Thị Th trong đó: sung vào ngân sách Nhà nước ½ (Một phần hai) giá trị của chiếc xe và trả lại cho chị Đinh Thị Th ½ (Một phần hai) giá trị chiếc xe.
* Tạm giữ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) ông Nông Thanh T đã nộp theo biên lai thu tiền số 03637 ngày 20/11/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/10/2020 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn).
3 - Về án phí: Bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
4 - Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn;(1) - VKSND tỉnh Bắc Kạn;(1) - VKSND huyện B (2); - Bị cáo; (1) - Người bào chữa; (1) - Người có QL,NVLQ;(1) - Chi cục THADS huyện B;(1) - Công an huyện B;(2) - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn;(1) - THAHS; (1) - Lưu hồ sơ vụ án; (1) - Lưu Văn phòng. (1) | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |