vanban.org

Bản án 03/2019/KDTM — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần E Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng thương mại HM có trách nhiệm trả cho công ty cổ phần E số tiền 188.282.303 đồng theo hợp đồng mua bán hàng hóa số: 1133715/11307346/NR ngày 15/9/2011giữa Chi nhánh công ty cổ phần E (Tên cũ: Công t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng thi công"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Quận Bình Thủy
Thành phố Cần Thơ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/KDTM
Ngày: 24/10/2019
V/v: “Tranh chấp đòi nợ
theo hợp đồng mua bán tài sản ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ - TP. CẦN THƠ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa : Bà Phùng Kim Toan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Công Tiên

2. Ông Phan Ngọc Đáng

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Hữu Sáng - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham dự phiên tòa: Bà Tô Nguyễn Mộng Lành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 09/2019/TLST-KDTM ngày 01/7/2019 về tranh chấp “đòi nợ theo hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 593/2019/QĐXX-KDTM ngày 26 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần E Địa chỉ: Lô 15, khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, TP. Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cảnh H – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị D – nhân viên, theo văn bản ủy quyền số 2214/2019/EW – HCM ngày 19/7/2019 của Công ty Cổ phần E. Thời hạn ủy quyền kể từ ngày ký cho đến khi có văn bản khác thay thế.

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng, thương mại HM.

Địa chỉ: đường Cách mạng tháng tám, phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2017 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Thực hiện theo hợp đồng mua bán hàng hóa số: 1133715/11307346/NR ngày 15/9/2011giữa Chi nhánh công ty cổ phần E- Tên cũ: Công ty cổ phần cửa sổ nhựa Châu Âu ( nguyên đơn) và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng thương mại HM ( bị đơn). Theo đó chi nhánh công ty cổ phần E đã bán và thực hiện việc lắp đặt các loại cửa sổ, cửa đi, vách ngăn, kính công trình tại địa chỉ: Lô D26 đường số 10, khu dân cư Nam Long, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Tổng giá trị hợp đồng là 369.065.363 đồng (đã bao gồm thuế VAT). Công ty cổ phần E đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng trên. Toàn bộ số lượng sản phẩm theo hợp đồng đã được Công ty cổ phần E bàn giao và đưa vào sử dụng. Nhưng đến nay, bị đơn chỉ mới thanh toán được 159.000.000 đồng và còn nợ 188.282.303 đồng. Nguyên đơn đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu bị đơn thực hiện việc thanh toán số nợ trên nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ lại theo hợp đồng mua bán nêu trên, số tiền 188.282.303 đồng. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có triệu tập hợp lệ nhiều lần, niêm yết thủ tục tố tụng theo quy định nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn nên không tiến hành hòa giải, công bố chứng cứ được. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày.

Bị đơn vắng mặt không rõ lý do

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng mua bán đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn, bị đơn trụ sở tại quận Bình Thủy nên xác định đây là “Tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa công ty với công ty thuộc ngành luật kinh doanh thương mại điều chỉnh và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Về nội dung: căn cứ vào hợp đồng mua bán số 1133715/11307346/NR về việc cung cấp cửa sổ, cửa đi và vách ngăn băng chất liệu uPVC ngày 12/7/2011 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bị đơn đồng ý mua cửa sổ, cửa đi và vách ngăn của nguyên đơnđể trang bị cho công trình của bị đơn tại địa chỉ: Lô D26 đường số 10, khu dân cư Nam Long, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Ngày 15/9/2011 các bên tiếp tục ký kết phụ lục hợp đồng do thay đổi thiết kế và số lượng cửa. Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng trên. Toàn bộ số lượng sản phẩm theo hợp đồng đã được Công ty cổ phần E bàn giao và đưa vào sử dụng. Nhưng đến nay, bị đơn chỉ mới thanh toán được 159.000.000 đồng và còn nợ 188.282.303 đồng. Nguyên đơn đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu bị đơn thực hiện việc thanh toán số nợ trên nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình.

Ngày 02/5/2012 các bên ký kết biên bản nghiệm thu và thanh quyết toán công trình, theo đó các bên thống nhất tổng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 347.282.303 đồng. Bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 139.000.000 đồng. Số tiền còn nợ lại là 208.282.303 đồng. Sau đó bị đơn thanh toán tiếp cho nguyên đơn 20.000.000 đồng. Tổng số tiền đã thanh toán là 150.000.000 đồng, còn nợ lại 188.282.303 đồng. Ngày 30/6/2017 nguyên đơn ban hành văn bản xác nhận công nợ số tiền trên, tuy nhiên nguyên đơn không liên lạc được với bị đơn để chốt công nợ.

Nguyên đơn khởi kiện, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn, không tiến hành hòa giải được. Hội đồng xét xử căn cứ chứng cứ nguyên đơn cung cấp và quy định pháp luật, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó thiết nghĩ buộc bị đơn thanh toán khoản nợ còn lại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và ph hợp với các quy định của pháp luật. Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi là sự tự nguyện của đương sự nên chấp thuận.

Về thời gian và phương thức thanh toán: Do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy xem xét giải quyết theo thẩm quyền khi có yêu cầu.

Về phía bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng bị đơn không đến Tòa nên Tòa án không thể ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi cho người vắng mặt Hội đồng xét xử dành quyền kháng cáo cho bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 91, Điều 92, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 24, Điều 50, Điều 55 Luật thương mại 2005.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần E

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng thương mại HM có trách nhiệm trả cho công ty cổ phần E số tiền 188.282.303 đồng theo hợp đồng mua bán hàng hóa số: 1133715/11307346/NR ngày 15/9/2011giữa Chi nhánh công ty cổ phần E (Tên cũ: Công ty cổ phần cửa sổ nhựa Châu Âu) và Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng thương mại HM.

Thời gian và cách trả do Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ giải quyết theo thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thì hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải nộp 9.414.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 008626 ngày 11/10/2017 thành án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi có trụ sở, bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ