- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Hoàng T - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TÂY NINH Bản án số: 03/2019/HS-ST Ngày: 28-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiên Di.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Văn Lộc;
2. Ông Đào Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST–HS ngày 31 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Lâm Hoàng T, sinh năm: 1980 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn Đ, sinh năm 1952 và bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1958; có vợ tên Nguyễn Thị M, sinh năm 1985 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính lần nào; chưa bị xử lý hình sự lần nào; bị cáo bị tạm giữ ngày 30/12/2018, chuyển tạm giam từ ngày 05/01/2019 cho đến nay; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 23 giờ 30 phút, ngày 29/12/2018, tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Công an tỉnh Tây Ninh bắt quả tang bị cáo Lâm Hoàng T đang điều khiển xe môtô biển số 70L5-4794 chở 01 bao nilon màu xanh bên ngoài có một sọc đỏ, bên trong bao có 05 bao nilon màu trắng chứa 50 bịch pháo nổ loại pháo banh, vận chuyển từ hướng biên giới Campuchia về hướng khu vực ấp T, xã P nhằm mục đích mua bán.
Quá trình điều tra chứng minh được: Ngày 28/12/2018, một người đàn ông (không rõ nhân thân) hỏi mua của bị cáo T 50 bịch pháo nổ, loại 0,5 kg/bịch với giá 10.000.000 đồng, đưa trước 1.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ trả đủ khi nhận hàng và địa điểm giao nhận hàng là tại đường đất đỏ thuộc ấp T, xã P, huyện C, bị cáo T đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/12/2018, bị cáo T điện thoại cho một người Campuchia tên S (không rõ nhân thân) hỏi mua 50 bịch pháo nổ với giá 160.000 đồng/bịch, tổng số tiền là 8.000.000 đồng, người tên S đồng ý và hẹn giao pháo nổ tại khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia thuộc ấp T, xã B, huyện C. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Tđiều khiển xe môtô biển số 70K7-5489 đến chỗ hẹn để nhận pháo nổ. Sau đó, bị cáo T chở pháo nổ về nhà cất xe và mang toàn bộ số pháo nổ đến bến đò L lấy một chiếc ghe (không rõ chủ sở hữu) chở qua sông V đến bến đò C; tại đây bị cáo T lấy xe môtô biển số 70L5-4794 cất giấu trước đó trong đám cây tràm, vận chuyển số pháo nổ đi giao thì bị bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm 50 bịch pháo nổ, loại pháo banh, trọng lượng 25 kg; 01 xe môtô biển số 70L5-4794; 50 bao nilon màu trắng; 01 bao nilon màu xanh bên ngoài có 01 sọc đỏ; 01 điện thoại di động.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 12/CT-VKSCT ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lâm Hoàng T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lâm Hoàng T mức án từ 02 năm tù đến 03 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vật chứng, áp dụng hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và án phí.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận vào ngày 29/12/2018 bị cáo Lâm Hoàng T đã có hành vi mua 50 bịch pháo nổ, loại pháo banh, có tổng trọng lượng là 25 kg để bán lại cho người khác nhằm hưởng lợi bất chính. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế được pháp luật bảo vệ, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, trong đó có pháo nổ. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi buôn bán hàng cấm là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận trước mắt mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bà nội được Nhà nước tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cha ruột tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; 02 bác ruột là Liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành: Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rỏ ràng, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để bị cáo tự cải tạo thành người công dân biết tuân thủ pháp luật và có ích cho xã hội. Hơn nữa việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Ngoài hình phạt chính là phạt tù cho hưởng án treo, bị cáo Tcòn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại Điều 35; khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bao nilon màu xanh, bên ngoài có 01 sọc đỏ; 05 bao nilon màu trắng; 02 thùng giấy cạc tông đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký, chữ viết tên Lâm Hoàng T và mộc dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh là vật chứng vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Dream Trung Quốc, màu sơn tím, biển số 70L5-4794 (đã qua sử dụng) và 01 xe môtô nhãn hiệu Fusin (loại Wave), màu sơn đỏ, biển số 70K7-5489 (đã qua sử dụng); 01 giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 0121775, biển số 70K7-5489, tên Thái Văn Đẹp do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28/02/2005; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số imei 1: 868499031162394, imei 2: 868499031162386 (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Đối với người đàn ông tên S quốc tịch Campuchia bán pháo nổ cho bị cáo T và người đàn ông mua pháo nổ từ bị cáo T chưa xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể nên khi nào xác định, tiến hành làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Tphải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lâm Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tuyên bố trả tự do cho bị cáo T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Lâm Hoàng T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Lâm Hoàng T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao nilon màu xanh, bên ngoài có 01 sọc đỏ; 05 (năm) bao nilon màu trắng; 02 (hai) thùng giấy cạc tông đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký, chữ viết tên Lâm Hoàng T và mộc dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký, chữ viết tên điều tra viên Nguyễn Kim Lệ Thi.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Dream Trung Quốc, màu sơn tím, biển số 70L5-4794 (đã qua sử dụng), số máy: LC150FMG01003552, số khung: VTPGG001-YVN00252 và 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Fusin (loại Wave), màu sơn đỏ, biển số 70K7-5489 (đã qua sử dụng), số máy: TFS150FMG000709, số khung: TPCG00127000709; 01 (một) giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 0121775, biển số 70K7-5489, tên Thái Văn Đẹp do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh cấp ngày 28/02/2005; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, số imei 1: 868499031162394, imei 2: 868499031162386 (đã qua sử dụng).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lâm Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Sở Tư pháp Tây Ninh; - Chi cục THA DS huyện Châu Thành; - Phòng PV 27; - Công an huyện Châu Thành; - Thi hành án HS; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã kí) Nguyễn Thiên Di |