vanban.org

Bản án 03/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 26/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÔN ĐẢO
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/HSST
Ngày: 26-3-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Văn Giáp.

Hội thẩm nhân dân: ông - Ông Lê Mạnh Hậu;

- Ông Nguyễn Văn Học.

Thư ký Tòa án: ông Hà Hùng Cƣờng là Thư ký ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Thạch – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 26 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2018/TL-HSST ngày 07-3-2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/HSST-QĐ ngày 13-3-2018 đối với bị cáo:

Huỳnh Bá G (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1993; tại Thành phố Cần C. HKTT: ấp Thới Thuận A, Thị trấn Thới Lai, huyện Thới B, Thành phố Cần C; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; con oâng Huỳnh Tấn L, sinh năm: 1948 và bà Lê Thị C, sinh năm: 1948;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21-12-2017 (Có mặt).

Người bị hại: Thái Thị Thu C, sinh năm: 1971; HKTT: Khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Huỳnh Trung T, sinh năm: 1986, HKTT: Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Vắng mặt).

2. Đoàn Phúc Đ, sinh năm: 1973, HKTT: Khu dân cư số 6, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/12/2017, Huỳnh Bá G đi xe máy biển số 47D1-020.35 đến khu vực chợ tạm huyện Côn Đảo để mua nước rửa chén. Khi đến nơi, G vào tiệm tạp hóa của bà Thái Thị Thu C, sinh năm: 1971; Tạm trú: Khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo và hỏi mua một chai nước rửa chén với giá 13.000đ, mua bán xong bà C tiếp tục vào bếp để nấu ăn, còn G cầm chai nước rửa chén đi ra bên ngoài định về nhà. Khi đi ngang qua bàn để giấy tờ trong tiệm tạp hóa của bà C, G phát hiện trên bàn có để một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng nên Giàu nảy sinh ý định trộm cắp để đem về sử dụng. Sau đó, G đi ra phía bên ngoài quan sát không thấy có người nên vào bên trong lén lút trộm cắp được chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus của bà Cúc bỏ vào túi quần short rồi lên xe đi về nhà, khi về đến nhà G tắt nguồn điện thoại và đem cất giấu vào hộp giấy trên nóc tủ nhà bếp và tiếp tục đi làm việc bình thường. Sau khi bị mất trộm tài sản, bà Thái Thị Thu C đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo để trình báo vụ việc. Đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, Huỳnh Bá G đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo để trình diện và giao nộp vật chứng là: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng và 01 ốp lưng điện thoại Iphone bằng nhựa màu xám, mặt sau ốp lưng có đính kim tuyến, viền ngoài đính đá màu trắng.

Theo Kết luận số: 11/KL.HĐĐGTS-TTHS, ngày 19/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Côn Đảo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng-số Imel 354392063119435, trị giá là: 4.600.000đ; 01 (một) Ốp lưng, trị giá là: 20.000đ. Tổng trị giá tài sản là: 4.620.000đ (Bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng).

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra bị cáo G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các lời khai, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được.

Căn cứ vào những chứng cứ và những tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa ngày hôm nay, một lần nữa bị cáo Huỳnh Bá G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/12/2017, tại khu chợ tạm Côn Đảo, thuộc Khu dân cư số 8, huyện Côn Đảo, bị cáo G đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Thái Thị Thu C 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus và 01 ốp lưng điện thoại Iphone bằng nhựa màu xám, mặt sau ốp lưng có đính kim tuyến, viền ngoài đính đá màu trắng. Theo Kết luận số: 11/KL.HĐĐGTS-TTHS, ngày 19-12-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Côn Đảo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng-số Imel 354392063119435, trị giá là: 4.600.000đ; 01 (một) Ốp lưng, trị giá là: 20.000đ. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là: 4.620.000đ (Bốn triệu, sáu trăm hai mươi ngàn đồng).

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, phù hợp với kết luận điều tra của Công an huyện Côn Đảo, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Côn Đảo và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 theo đúng hướng dẫn tại khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 của Quốc hội.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật và nhà nước bảo hộ, chỉ vì muốn có điện thoại di động để sử dụng, không mất công sức làm việc để tạo ra của cải, vật chất chính đáng phục vụ bản thân mà chiếm đoạt tài sản của người khác phục vụ cho nhu cầu của mình nên dẫn đến hành vi phạm tội. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có đủ thời gian giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho nên cần áp dụng điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Ngày 22-12-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Thái Thị Thu C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng-số Imel 354392063119435 và 01 (một) Ốp lưng. Vật chứng đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bà Thái Thị Thu C không còn yêu cầu gì khác và đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Bà C không có yêu cầu gì khác. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 05-3-2018 và trong phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Bá G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù và xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Huỳnh Bá G không tranh luận gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đối với chiếc xe máy biển số 47D1-020.35, số máy: 5S61010279, số khung: C6106Y0102279, bị cáo sử dụng để đi đến chợ Côn Đảo mua nước rửa chén tại tạp hóa của bà C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo điều tra, xác minh chiếc xe máy nêu trên là do anh Đoàn Phúc Điền mua để sử dụng và quản lý hợp pháp, sau đó ông Đoàn Phúc Đ cho ông Huỳnh Trung T thuê xe để sử dụng, ông Huỳnh Trung T là anh trai của bị cáo, khi bị cáo G lấy xe máy đi chợ để mua nước rửa chén không cho ông T biết, và ông T cũng không biết bị cáo G lấy xe đi đâu và cũng không biết bị cáo G đi trộm cắp tài sản. Chiếc xe máy biển số 47D1-020.35 không có liên quan trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Côn Đảo không thu giữ vật chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì caùc leõ treân;

QUYEÁT ÑÒNH

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bá G phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Bá G 03 (ba) tháng 06 (sáu) ngày tù. Nhưng được khấu trừ 03 tháng 06 ngày đã tạm giam, tạm giữ. Như vậy bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Áp dụng điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo Huỳnh Bá G tại phiên tòa nếu như bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong. Hội đồng xét xử không xem xét.

Veà aùn phí: Bò caùo Huỳnh Bá G phải noäp 200.000 ñồng (Hai trăm nghìn ñoàng) aùn phí hình sự sô thaåm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và các đương sự khác được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, thời hạn được tính từ ngày niêm yết bản án hoặc nhận được bản án.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ