- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Thăng T cùng các đồng phạm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Hoàng Thăng T, Phan Viết D, Lê Xuân V, Lê Viết H, Nguyễn
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2018/ HS - ST Ngày: 19/01/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Bùi Văn Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Phạm Ngọc Dung
2. Ông Hà Văn Phấn
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Hải – Thư ký Toà án nhân dân Huyện
Vĩnh Lộc.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên
Trong ngày 19 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2017/TLST - HS ngày 28 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST – HS ngày 05/01/2018 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Thăng T, tên gọi khác Hoàng Thăng H, nơi sinh: phường B, thành
phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố M, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nghề
nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thăng P và bà Ngô Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2017 đến ngày 03/11/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Phan Viết D – Nơi sinh: phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố V, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nghề
nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Viết Y và bà Vũ Thị L; có vợ là Nguyễn Thị L và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2017 đến ngày 03/11/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
3. Lê Viết H – Nơi sinh: phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nghề
nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết V và bà Trần Thị T; có vợ là Hoàng Thị T và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2017 đến ngày 03/11/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
4. Lê Xuân V – Nơi sinh: phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố M, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nghề
nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Đ và bà Hoàng Thị T ; có vợ là Nguyễn Thị N và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/10/2017 đến ngày 03/11/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; có mặt.
5. Nguyễn Quốc Đ – Nơi sinh: xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề
nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị V; có vợ là Đỗ Thị T và 01 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/10/2017 đến ngày 03/11/2017 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Trần Văn T; Bà Lê Thị Y
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 28/10/2017, tại nhà trọ của gia đình bà Lê Thị Y
ở thôn 7, xã V, huyện L, Thanh Hóa, Hoàng Thăng T sau khi ăn cơm tối xong đã rủ Phan Viết D và Lê Viết H chơi bài ăn tiền. Khi được T rủ thì D và H đồng ý chơi bài ăn tiền, sau đó D lên nhà trên nơi gia đình bà Y ở để rủ Lê Xuân V và Nguyễn Quốc Đ lúc này đang ngồi uống nước trên nhà bà Yến xuống cùng tham gia.
Sau khi D lên nhà trên của gia đình bà Y gọi về uống nước nói chuyện, thì
V và Đ đã hiểu ý của D là gọi hai người về đánh bài nên mọi người đã xuống phòng trọ và tham gia đánh bài ăn tiền. Lúc này T lấy bộ bài tú lơ khơ có sẵn tại phòng trọ để các đối tượng chơi bài ăn tiền với nhau. Các đối tượng T, D , H, V, Đ ngồi đánh bài ăn tiền với nhau từ khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày dưới hình thức đánh “ba cây”, giới hạn “30-50”, tức là mỗi ván người chơi phải đặt ít nhất là 30.000đ (ba mươi nghìn đồng) và tối đa không được đặt quá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Trường hợp người chơi nào được “mỳ” (bài có tổng 10 điểm), “sáp” (bài có 3 lá cùng số với nhau), “đồng hoa” (bài cùng chất với nhau) thì số tiền phải trả cho người thắng đó sẽ được nhân đôi số tiền đã đặt cửa. Đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 28/10/2017 khi các đối tượng kể trên đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện Vĩnh Lộc phát hiện bắt quả tang. Tang vật phát hiện thu giữ gồm: 6.230.000đ (sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành và một bộ bài tú lơ khơ 52 cây.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Lộc các bị can Hoàng
Thăng T, Phan Viết D, Lê Viết H, Lê Xuân V, Nguyễn Quốc Đ đều thừa nhận hành vi tham gia đánh bài ăn tiền của mình cùng đồng bọn tại nhà trọ của gia đình bà Lê Thị Y ở thôn 7, xã V, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Khi tham gia đánh bạc thì Phan Viết D mang theo 1.000.000đ (Một triệu đồng), Lê Viết H mang theo 1.000.000đ (Một triệu đồng), Lê Xuân V mang theo 1.000.000đ (một triệu đồng), Hoàng Thăng T mang theo 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và Nguyễn Quốc Đ mang theo 730.000đ (bảy trăm ba mươi nghìn đồng). Lời khai của từng đối tượng phù hợp với lời khai của các đối tượng khác, lời khai nhân chứng cùng các tang vật thu giữ được trong vụ án.
Vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Lộc
xử lý bằng hình thức chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc để giải quyết theo vụ án gồm:
- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 6.230.000VNĐ (sáu triệu hai trăm
ba mươi nghìn đồng) tiền thu giữ trong chiếu bạc.
- 01(một) bộ bài tú lơ khơ 52(năm hai) cây.
Tại bản cáo trạng số 02/ CTr – KSĐT - TA ngày 25/12/2017 Viện kiểm sát
nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Hoàng Thăng T, Phan Viết D, Lê Xuân V, Lê Viết H, Nguyễn Quốc Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 248 Bộ Luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết Định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “ Đánh bạc” và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 điều 248 ; điểm p, h khoản 1 Điều 46; Điều 60; Điều 20;
Điều 53 Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt Hoàng Thăng T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p ,h khoản 1 Điều 46; Điều 31; Điều 20;
Điều 53 Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt Phan Viết D từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p , h khoản 1 Điều 46; Điều 31; Điều
20; Điều 53 Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt Lê Xuân V từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h,p khoản 1, khoản 2 điều 46; Điều 31;
Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt Lê Viết H từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p ,h khoản 1 Điều 46; Điều 31; Điều 20;
Điều 53 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Quốc Đ từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 3 điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 xử phạt bổ sung mỗi bị cáo
từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật Hình sự 1999; khoản 1, khoản 2
điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.230.000 đ (Sáu triệu hai trăm ba
mươi nghìn đồng).
Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy Định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Định như sau:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Hoàng
Thăng T, Phan Viết D, Lê Xuân V, Lê Viết H, Nguyễn Quốc Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và lời khai của người làm chứng thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi đánh bài ăn tiền với hình thức đánh "ba cây" vào ngày 28/10/2017 của các bị cáo đều nhằm mục đích tư lợi, được, thua sát phạt lẫn nhau bằng hình thức thông qua các ván bài. Các bị cáo đều tham gia tích cực, song các bị cáo không có bàn bạc ,tổ chức gì với nhau nên đây không phải là phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Hoàng Thăng T,
Phan Viết D, Lê Xuân V, Lê Viết H, Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương vì vậy cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục riêng từng bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Xét vai trò của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Hoàng Thăng T là người
khởi xướng việc đánh bài ăn tiền nên bị cáo T giữ vai trò số 1 trong vụ án. Bị cáo Phan Viết D là người rủ rê các bị cáo Lê Xuân V, Nguyễn Quốc Đ tham gia đánh bài ăn tiền nên bị cáo D có vai trò thứ 2 trong vụ án. Các bị cáo Lê Xuân V, Lê Viết H, Nguyễn Quốc Đ đều tham gia đánh bài tích cực nên có vai trò sau bị cáo T và bị cáo D.
Xét tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều lần đầu phạm tội, thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng và khai báo thành khẩn, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Bị cáo Lê Viết H có bố là thương binh hạng 4/4 được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 điều 46 của Bộ luật hình sự 1999.
Từ những nhận xét trên, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhiều
tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tiền cũng đủ để răn đe bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên các bị cáo Hoàng Thăng T và bị cáo Phan Viết D có vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án, bị cáo Lê Xuân V là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam nên cần phải xử lý nghiêm khắc hơn bị cáo H và bị cáo Đ.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Lộc đã
thu được số tiền là 6.230.000 đồng ( Sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) đây là số tiền các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước là phù hợp. Đối với Bộ bài Tú lơ khơ các bị cáo dùng để đánh bạc không có giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí : Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Hoàng Thăng T, Phan Viết D, Lê Xuân V, Lê Viết H, Nguyễn
Quốc Đ phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30; Điều
20, Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thăng T số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu
đồng)
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30;
Điều 20, Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Bị cáo Phan Viết D số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu
đồng)
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30; Điều
20; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân V số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu
đồng)
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều
30; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Bị cáo Lê Viết H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng)
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 30; Điều
20; Điều 53 của Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Đ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu
đồng)
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự 1999, điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây thu được trong vụ án.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.230.000 đồng (Sáu triệu hai
trăm ba mươi nghìn đồng).
Tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện
Vĩnh Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/01/2018 và số tiền 6.230.000 đồng hiện đã được nộp vào tài khoản tạm thu,tạm giữ số 3949 cuả Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc ngày 29/12/2017.
Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật
tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Buộc mỗi bị cáo Hoàng Thăng T, Phan Viết D, Lê Xuân V, Lê Viết H,
Nguyễn Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - Chi cục THA dân sự huyện Vĩnh Lộc; - Công an huyện Vĩnh Lộc; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Tuấn |