vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lâm Minh Đạt và Huỳnh Minh Chánh đồng phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh s; Điều 106 Bộ luật T t ng h nh s; Điều 17 Bộ luật H nh s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH N I N
Bản án s : 02/2022/HS-ST
Ngày: 14/01/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý;

2. Ông Hồ Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022 t i tr s Tòa án nhân dân huyện TT tỉnh n iang t s th m công khai v án h nh s th lý s 50/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra t s 46/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đ i với:

1. Các bị cáo:

1.1. Lâm Minh Đ sinh năm 1989 t i thị trấn TT huyện TT tỉnh n iang.

Đăng ký hộ kh u thường trú: Khóm 04 thị trấn TT huyện TT tỉnh n iang; n i cư trú: Khóm 04 thị trấn TT huyện TT tỉnh n iang; nghề nghiệp: Làm thuê; tr nh độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đ o Phật; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lâm Minh H (chết) và bà Trần Thị Y; chưa có vợ và con.

Tiền án: Không.

Tiền s : Ngày 08/10/2019, bị T ND huyện TT quyết định áp d ng biện pháp

lý hành chính đưa vào c s cai nghiện bắt buộc thời h n 24 tháng. Đến ngày 17/4/2021 chấp hành ong.

Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt t m giam từ ngày 03/11/2021 đến nay bị cáo có mặt.

1.2. Huỳnh Minh C, sinh năm 1990 t i thị trấn TT huyện TT, tỉnh An Giang.

Đăng ký hộ kh u thường trú: Khóm 04 thị trấn TT huyện TT tỉnh n iang; n i cư trú: Khóm 04 thị trấn TT, huyện TT tỉnh n iang; nghề nghiệp: Làm thuê; tr nh độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đ o phật; qu c tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hùng C (chết) và bà Phan Ngọc K; chưa có vợ và con;

Tiền án: Ngày 21/5/2009, bị Tòa án nhân dân huyện TT tỉnh n iang ph t 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “C ý làm hư hỏng tài sản” Chưa chấp hành ong nghĩa v án phí h nh s s th m.

Tiền s : Ngày 10/02/2020 bị Công an thị trấn TT huyện TT tỉnh n iang

ph t 750.000 đồng về hành vi s d ng trái ph p chất ma túy. Hiện chưa đóng ph t.

Ngày 21/10/2016 bị T ND huyện TT quyết định áp d ng biện pháp lý hành chính đưa vào c s cai nghiện bắt buộc thời h n 24 tháng. Ngày 21/9/2018 chấp hành xong.

Ngày 12/01/2021 bị C quan điều tra h nh s khu v c 2 các Tổ chức s nghiệp – Bộ Qu c phòng kh i t v án kh i t bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS và bị áp d ng biện pháp cấm đi kh i n i cư trú. Hiện Tòa án quân s Khu v c Quân khu 9 đang th lý v án.

Nhân thân:

Bị cáo bị t m giữ t m giam từ ngày 04/9/2021 đến nay bị cáo có mặt.

Bị hại: Ông Trần Văn T sinh năm 1979; n i cư trú: Khóm 05 thị trấn TT huyện TT tỉnh n iang.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Trư ng Thanh sinh năm 1965;

(Tại phiên tòa, các ông T, B cùng có mặt)

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/9/2021, Lâm Minh Đ rủ Huỳnh Minh C đi lấy trộm b nh ắc quy đem bán lấy tiền mua ma túy s d ng C đồng ý. Để th c hiện C đem theo 01 cây k m cộng l c và cùng Đ leo rào đột nhập vào khuôn viên Nhà thiếu nhi huyện TT C dùng k m cộng l c cắt ổ khóa khu vui ch i nhà banh của ông Trần Văn T (thuộc khóm 2 thị trấn TT huyện TT) Đ vào lấy trộm 08 b nh ắc quy hiệu S và 03 b nh ắc quy hiệu Enimac, đều lo i 12V-50Vh đưa cho C đem ra hàng rào Đ đứng bên trong chuyền 11 b nh ắc quy cho C bên ngoài rồi cả hai đem bán cho ông Trư ng Thành B ng khóm 1 thị trấn TT huyện TT nhưng ông B không mua. Sợ bị phát hiện Đ và C để 11 b nh ắc quy t i nhà hoang gần nhà ông B. Sau khi phát hiện mất tài sản ông T kiểm tra Camera biết C vào lấy trộm nên tr nh báo Công an. Ngày 03/9/2021 C quan cảnh sát điều tra bắt kh n cấp C để lý riêng Đ bỏ tr n.

Theo Kết luận định giá tài sản s 70/BB-HĐĐ .TTHS ngày 09/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong t t ng H nh s huyện TT kết luận: 08 b nh ắc quy do Thái Lan sản uất hiệu S lo i 12V-50 h trị giá 2.400.000 đồng; 03 b nh ắc quy do Việt Nam sản uất hiệu Enimac lo i 12V-50 h trị giá 750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản đã định là 3.150.000 đồng.

Ngày 13/9/2021, C bị kh i t và t m giam để điều tra đến ngày 03/11/2021 Đ bị kh i t và bị bắt t m giam.

Trong quá tr nh điều tra truy t và t i phiên tòa các bị cáo Lâm Minh Đ, Huỳnh Minh C khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của m nh như nội dung cáo tr ng.

Các bị cáo Đ C khai nhận: Do cần tiền mua ma túy s d ng, nên Đ rủ C đi lấy trộm b nh ắc quy đem bán lấy tiền mua ma túy s d ng C đồng ý. Để th c hiện C đem theo 01 cây k m cộng l c và cùng Đ leo rào đột nhập vào khuôn viên Nhà thiếu nhi huyện TT C dùng k m cộng l c cắt ổ khóa khu vui ch i nhà banh của ông Trần Văn T; Đ vào th c hiện hành vi lấy trộm 11 b nh ắc quy như đã nêu rồi cả hai đem bán cho ông Trư ng Thành B nhưng ông B không mua. Sợ bị phát hiện Đ và C để 11 b nh ắc quy t i nhà hoang gần nhà ông B.

Bị h i Trần Văn T tr nh bày: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/9/2021, ông đến khu vui ch i phát hiện c a nhà banh bị mất khóa vòng nên kiểm tra trong nhà banh th phát hiện bị mất trộm 11 cái b nh ắc quy. Lúc này, ông kiểm tra l i camera phát hiện có 02 thanh niên m khóa c a nhà banh lấy trộm b nh ắc quy nên đến Công an thị trấn TT tr nh báo v việc và cung cấp đo n camera. Hiện ông đã được nhận l i tài sản đã mất không yêu cầu bồi thường đ i với các bị cáo.

Người làm chứng ông Trư ng Thành B cho biết: Khoảng 01 giờ ngày 03/9/2021 có 01 người thanh niên (không rỏ tên địa chỉ) đến bán 03 b nh ắc quy nhưng ông không mua. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày ông phát hiện gần nhà kho có 11 b nh ắc quy.

Quá tr nh điều tra và t i phiên tòa Kiểm sát viên bị cáo người tham gia t t ng khác không có ý kiến hay khiếu n i g về kết luận định giá tài sản kết quả khám nghiệm hiện trường vật chứng thu giữ.

Cáo tr ng s 03/CT–VKSTT.HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, truy t bị cáo Lâm Minh Đ, Huỳnh Minh C cùng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Kiểm sát viên th c hành quyền công t t i phiên tòa phát biểu quan điểm: iữ nguyên quyết định truy t . Sau khi đánh giá tính chất của v án mức độ nghiêm trọng của hành vi ph m tội phân tích các t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ; đề nghị Hội đồng t

(HĐXX):

Áp d ng khoản 1 Điều 173; các điểm h i s khoản 1 Điều 51, các Điều 17 58 Bộ luật H nh s năm 2015 đã được s a đổi bổ sung 2017 ph t bị cáo Lâm Minh Đ từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 các Điều 17 58 Bộ luật H nh s năm 2015 đã được s a đổi bổ sung năm 2017, ph t bị cáo Huỳnh Minh C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về h nh ph t bổ sung: Đề nghị không áp d ng h nh ph t bổ sung đ i với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân s : Bị h i ông Trần Văn T đã nhận tài sản không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không em xét.

Về vật chứng của v án: Đề nghị áp d ng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật H nh s ; Điều 106 Bộ luật T t ng h nh s

lý:

- Trả l i cho bị cáo Huỳnh Minh C 01 e đ p màu trắng phía trước e có rổ màu ám lo i e nữ;

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo thu thể thao ngắn tay màu đỏ; 01 quần jean màu anh; 01 cái nón kết màu anh ám.

Lời nói sau cùng các bị cáo in giảm nhẹ h nh ph t.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên c s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng t i phiên tòa HĐXX nhận định như sau:

1 Về hành vi quyết định t t ng của C quan điều tra Công an huyện TT Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện TT Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra truy t đã th c hiện đúng về th m quyền tr nh t thủ t c quy định của Bộ luật T t ng h nh s . Quá tr nh điều tra và t i phiên tòa các bị cáo những người tham gia t t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi quyết định của C quan tiến hành t t ng người tiến hành t t ng. Do đó các hành vi quyết định t t ng của C quan tiến hành t t ng người tiến hành t t ng đã th c hiện đều hợp pháp.

2 T i phiên tòa lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai các bị cáo đã khai nhận t i C quan điều tra phù hợp với lời khai của bị h i người làm chứng biên bản khám nghiệm hiện trường Kết luận định giá tài sản s 70/BB-HĐĐ .TTHS ngày 09/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong t t ng H nh s huyện TT và các tài liệu chứng cứ khác thu giữ trong hồ s đủ c s kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/9/2021 t i khu vui ch i nhà banh của ông Trần Văn T (thuộc khóm 2 thị trấn TT huyện TT) các bị cáo Lâm Minh Đ, Huỳnh Minh C đã l n lút th c hiện hành vi trộm cắp tài sản là 11 b nh ắc quy có tổng trị giá 3.150.000 đồng. Các bị cáo Đ C là người có đầy đủ năng l c trách nhiệm h nh s nhận thức được 08 b nh ắc quy hiệu S và 03 b nh ắc quy hiệu Enimac là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn T nhưng vẫn l t lút lấy trộm là thể hiện lỗi c ý tr c tiếp. Cho nên Cáo tr ng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy t các bị cáo Đ C về tội: “ Trộm cắp tài sản” là đúng người đúng tội.

Các bị cáo đã chu n bị d ng c là kiềm cộng l c nhằm cắt ổ khóa để lấy trộm 11 b nh ắc quy của ông Trần Văn T, điều đó thể hiện tính kiên quyết th c hiện hành vi ph m tội của các bị cáo. Các bị cáo đều là thanh niên khỏe m nh b nh thường, lẽ ra phải t lao động để có t o thu nhập hợp pháp nuôi s ng bản thân giúp ích cho gia đ nh... Nhưng không, với bản tính tham lam thích l i s ng ăn ch i đua đòi, hút chích nên đã bất chấp pháp luật th c hiện hành vi chiếm đo t tài sản của người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, càng tệ h n là để giải tỏa c n nghiện của các bị cáo. Do đó HĐXX cần áp d ng mức chế tài h nh ph t tư ng ứng đ i với các bị cáo để nhằm cải t o giáo d c các bị cáo tr thành những người t t đồng thời cũng để răn đe giáo d c và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên đây là v án mang tính chất đồng ph m giản đ n với mức độ hành vi nguy hiểm mà các bị cáo gây ra cho ã hội là khác nhau lý lịch nhân thân của từng bị cáo cũng khác nhau nên việc quyết định h nh ph t cho từng bị cáo cũng khác nhau. C thể như sau:

Đ i với bị cáo Đ là người chủ mưu rủ bị cáo C cùng th c hiện hành vi lấy trộm tài sản Đ với vai trò là người người th c hành tr c tiếp m c a lấy 11 b nh ắc quy của ông T. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm h n bị cáo C; lẽ ra bị cáo phải chịu h nh ph t nặng h n nhưng với lý lịch nhân thân của bị cáo ít h n; bị cáo không có tiền án như bị cáo C nên HĐXX nghĩ cân nhắc áp d ng h nh ph t thấp h n bị cáo C.

Đ i với bị cáo C, lẽ ra khi nghe Đ rủ rê bị cáo phải biết từ ch i và thuyết ph c Đ từ bỏ ý định nhưng bị cáo không làm được điều đó mà đồng ý; Năm 2009 bị cáo đã từng bị Tòa án ph t về tội “C ý làm hư hỏng tài sản” chưa chấp hành ong nghĩa v án phí h nh s s th m. Đến ngày 12/01/2021, bị cáo tiếp t c bị C quan điều tra h nh s khu v c 2 các Tổ chức s nghiệp – Bộ Qu c phòng kh i t v án kh i t bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS và bị áp d ng biện pháp cấm đi kh i n i cư trú. Trong thời gian bị áp d ng biện pháp cấm đi kh i n i cư trú bị cáo l i tiếp t c ph m tội, điều đó cho thấy ý thức ph c thiện của bị cáo là chưa có nên lần ph m tội này thuộc trường hợp tái ph m quy định t i đểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh s .

Về t nh tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Đ C đều thành kh n khai báo ăn năn h i cải; ph m tội nhưng gây thiệt h i không lớn, khai nhận hành vi của m nh được quy định t i các điểm h s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh s 2015 s a đổi bổ sung năm 2017; riêng bị cáo Đ mới ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định t i điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh s 2015 s a đổi bổ sung năm 2017. Do đó khi lượng h nh HĐXX có em t giảm nhẹ h nh ph t cho bị các bị cáo.

Về h nh ph t bổ sung: Th ng nhất với quan điểm kiểm sát viên là các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định chỉ sinh s ng bằng nghề làm thuê hoàn cảnh gia đ nh khó khăn, nên không áp d ng h nh ph t bổ sung là ph t tiền đ i với các bị cáo.

[3]. Về trách nhiệm dân s : Bị h i Trần Văn T không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.

[4]. Về vật chứng của v án: X t đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ. B i:

- 01 e đ p màu trắng phía trước e có rổ màu ám lo i e nữ;

Là tài sản thuộc quyền s hữu hợp pháp của bị cáo Huỳnh Minh C, không liên quan đến hành vi ph m tội cần tuyên trả cho bị cáo.

- 01 áo thu thể thao ngắn tay màu đỏ; 01 quần jean màu anh; 01 cái nón kết màu anh ám là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo không nhận l i nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5]. Các bị cáo phải chịu án phí h nh s s th m theo quy định t i khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 Bộ luật T t ng h nh s và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban Thường v Qu c hội về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí.

V các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

Tuyên b bị cáo Lâm Minh Đ Huỳnh Minh C cùng ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h i, s khoản 1 Điều 51 các Điều 17 58 Bộ luật H nh s năm 2015 đã được s a đổi bổ sung năm 2017.

X ph t: Bị cáo Lâm Minh Đ 01 một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù tính từ ngày bị bắt t m giam 03-11-2021 (ngày ba tháng mười một năm hai ngh n không trăm hai mư i m t).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; các điểm h s khoản 1 Điều 51, các Điều 17 58 Bộ luật H nh s năm 2015 s a đổi bổ sung 2017.

X ph t: Bị cáo Huỳnh Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù tính từ ngày bị t m giữ t m giam 04-09-2021 (ngày b n tháng chín, năm hai ngh n không trăm hai mư i m t).

Căn cứ vào các Điều 46 47, 48 Bộ luật H nh s ; Điều 106 Bộ luật T t ng h nh s . Tuyên:

- Trả cho bị cáo Huỳnh Minh C 01 e đ p màu trắng phía trước e có rổ màu ám lo i e nữ;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thu thể thao ngắn tay màu đỏ; 01 quần jean màu anh; 01 cái nón kết màu anh ám.

(Vật tuyên trả theo biên bản giao nhận ngày 06/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện TT với Chi cục thi hành án dân sự huyện TT).

Căn cứ khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 Bộ luật T t ng h nh s và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường v Qu c Hội về án phí lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lâm Minh Đ Huỳnh Minh C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí h nh s s th m.

Các bị cáo và các đư ng s có quyền làm đ n kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/01/2022) đư ng s vắng mặt t i phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng th thời h n kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được t ng đ t hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ