vanban.org

Bản án 02

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, khoản n, s Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mai Kiều X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mai Kiều X 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày b t bị cáo đi chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 28/9/2021 đến 26/10/2021 vào thời gian chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, khoản n, s Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố -tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố -tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02./2022/HS-ST
Ngày 13-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ- TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Kha

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Hương và ông Hoàng Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị Đức Phổ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/ HSST ngày 01/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Mai Kiều X - sinh ngày 02 tháng 11 năm 1996 tại huyện Ch, tỉnh Gia Lai

Nơi cư trú: thôn Tốt Byơch, thị trấn Ch, huyện Ch, tỉnh Gia Lai

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh V - sinh năm 1972 và bà Mai Thị MD - sinh năm 1978; chồng, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: Chưa bị xử lý về hành chính và hình sự. Bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 28/9/2021 đến 26/10/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại, hôm nay có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Nhật Tr - sinh năm 1995 (V ng mặt)

Nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi

- Anh Nguyễn Anh D - sinh năm 1985 (V ng mặt)

Nơi cư trú: thôn PT, xã ĐT, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi

- Chị Nguyễn Thị MH- sinh năm 2003 (V ng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố L1, phường H1, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Chị Huỳnh Thị NX - sinh năm 1992 (V ng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố a, phường Ng, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Chị Đoàn TH - sinh năm 1992 (V ng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố b, phường Ng, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Ông Vũ Đình D1 - sinh năm 1947 (v ng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố c, phường Ng, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Chị Nguyễn Thị TD - sinh năm1998 (V ng mặt)

Nơi cư trú: thôn v, xã E, huyện B, tỉnh Đ k L k

- Anh Nguyễn Xuân L1 - sinh năm 1991 (V ng mặt)

Nơi cư trú: tổ dân phố L1, phường H1, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 14/8/2021, Nguyễn Mai Kiều X, sinh ngày 02/11/1996 tạm trú tại tổ dân phố d, phường Ng, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi cùng với Nguyễn Anh D, sinh năm 1985 trú tại thôn P, xã ĐT, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Nguyễn Thị MH, sinh năm 2003 trú tại tổ dân phố L1, phường H1, thị xã Đức Phổ và Đoàn TH (tên thường gọi là A), sinh năm 1992 ở Tổ dân phố e, phường Ng, thị xã Đức Phổ nhậu tại phòng trọ của ông Huỳnh T2, sinh năm 1956 ở Tổ dân phố e, phường Ng, thị xã Đức Phổ. Khi nhậu gần xong thì X rủ D tới phòng trọ của X chơi và X nói D gọi điện thoại rủ Nguyễn Nhật Tr, sinh năm 1995 trú tại thôn P, xã Đ, huyện M tới phòng trọ X chơi (mục đích của X là rủ D và Tr đến phòng trọ của X để cùng sử dụng ma tuý). D nghĩ X rủ đến phòng trọ để tiếp tục nhậu nên đồng ý và gọi điện thoại cho Tr. Sau đó, X mượn xe mô tô, biển kiểm soát 76T1- 050.01 của D về phòng trọ t m rửa và chuẩn bị dụng cụ (nỏ) để sử dụng ma tuý. Lúc này, Tr cũng đến phòng trọ của ông T2 và cùng D đợi X quay lại. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, X điều khiển xe mô tô quay lại chỗ nhậu thì gặp D và Tr đang đứng trước cửa dãy phòng trọ của ông T2. X tiếp tục rủ D và Tr đến phòng trọ của mình chơi (mục đích đến để sử dụng ma tuý) thì D và Tr đồng ý (lúc này D biết X rủ đến phòng trọ để sử dụng ma tuý, còn Tr nghĩ X rủ đến phòng trọ để nhậu). X chở D ngồi giữa, Tr ngồi sau đến phòng trọ của X. Đến nơi, D và Tr xuống xe, đứng trước cửa dãy phòng trọ hút thuốc, còn X tiếp tục điều khiển xe của D đi mua ống hút (để sử dụng ma tuý đá) và đi đến khu vực gần bưu điện Đức Phổ gặp 01 người chạy xe ôm, nhờ người này mua giúp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ma tuý đá và cho người xe ôm 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) tiền công. Người này đồng ý, một lúc sau mang về đưa cho X 01 gói ma tuý đá. X mang ma tuý về phòng trọ, lấy ống hút màu cam đã vát nhọn 1 đầu, xúc ma tuý từ túi mới mua bỏ vào trong “nỏ”, lấy bật lửa ga hơ nóng “nỏ” rồi gọi D, Tr vào sử dụng ma tuý (lúc này Tr biết X rủ đến phòng trọ để sử dụng ma tuý và Tr cũng đồng ý cùng D, X sử dụng ma tuý). Khi X, D, Tr vào phòng ngồi xuống chuẩn bị cùng sử dụng ma tuý có trong “nỏ” thì Nguyễn Thị MH đến gặp X để lấy tiền nợ, X ra mở cửa cho Huyền vào, khi Huyền vừa vào phòng thì Công an thị xã Đức Phổ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vụ việc.

Nguyễn Mai Kiều X, Nguyễn Anh D và Nguyễn Nhật Tr đều khai nhận thống nhất với nhau khi đang chuẩn bị cùng nhau sử dụng ma tuý thì bị lực lượng chức năng phát hiện, nếu không bị phát hiện thì X, D và Tr đều sử dụng hết số ma tuý có trong “nỏ”.

Tạm giữ tại hiện trường: 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý, bên trong “nỏ” bám dính tinh thể màu tr ng; 01 (một) túi ni lông được hàn kín ba đầu, bên trong không có gì; 01 (một) ống hút màu cam, được vát nhọn một đầu, bên trong không có gì; 01 (một) bật lửa ga màu tím, đã tháo bộ phận bánh xe; 01 (một) bật lửa ga màu xanh tr ng, bên trong có hai hột xí ngầu đã tháo bộ phận tiếp lửa; 01 (một) ống hút màu đỏ, sọc tr ng cùng nhiều đồ vật, tài liệu khác có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 751/KLGĐ-PC09 ngày 25/8/2021 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Chất r n, dạng hạt tinh thể màu tr ng bên trong nỏ thuỷ tinh trong túi niêm phong mã số NS4A 183036 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 0,07 gam .

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Cáo trạng số: 56/ CT - VKS –ĐP ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố Nguyễn Mai Kiều X về tội “ Tổ chức sử dụng trái ph p chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n, s khoản 1 điều 51, điểm b khoản 2 điều 255, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử bị cáo với mức án từ 07 đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy

+ 01 (một) túi ni lông rỗng KT (2,6x01) cm được hàn kín ba đầu; 01 (một) ống hút màu cam rỗng, được vát nhọn một đầu; 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ sọc tr ng rỗng; 01 (một) bật lửa ga màu tím, đã tháo bộ phận bánh xe; 01 (một) bật lửa ga màu xanh tr ng, bên trong có hai hột xí ngầu, đã tháo bộ phận tiếp lửa.

+ 01 (một) chai nước suối, n p màu xanh đục thủng hai lỗ, một lỗ g n ống hút màu xanh.

+ 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cong, một đầu hình phễu (mẫu vật hoàn trả sau khi giám định).

Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone (điện thoại đã qua sử dụng) của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem x t đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khai nhận nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã có hành vi rủ rê Nguyễn Anh D và Nguyễn Nhật Tr sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo là người trực tiếp bỏ tiền ra để mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ nhằm mục đích sử dụng trái phép chất ma tuý và sử dụng phòng trọ do mình quản lý để làm nơi tổ chức cho D và Tr sử dụng trái phép chất ma tuý. Lời nhận tội của bị cáo là phụ hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 751/KLGĐ-PC09 ngày 25/8/2021 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Chất r n, dạng hạt tinh thể màu tr ng bên trong nỏ thuỷ tinh trong túi niêm phong mã số NS4A 183036 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 0,07 gam .

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hành vi của bị cáo cung cấp ma túy, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm để cho Nguyễn Anh D, Nguyễn nhật Tr sử dụng trái phép chất ma túy nên đã cấu thành tội phạm được quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo Nguyễn Mai Kiều X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét bị cáo là công dân việt Nam có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có trình độ nhận thức về pháp luật và xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, lẽ ra phải tu dưỡng bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo thừa hiểu được rằng ma túy là một tệ nạn xã hội. Nhưng do ăn chơi lêu lỏng, xem thường háp luật nên đã dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo gây hoang mang trong nhân dân, gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần xử bị cáo với mức án nghiệm kh c để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Về tình tiết tăng năng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người đang có thai. Nên Hội đồng xét xử cần áp dung điểm n,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý trước đó của Nguyễn Anh D, Nguyễn Thị MH, Nguyễn Nhật Tr không liên quan đến vụ án nên Công an thị xã Đức Phổ tiếp tục xác minh, xử lý riêng.

[6] Đối với đối tượng hành nghề xe ôm tại khu vực gần Bưu điện thị xã Đức Phổ mua giúp ma tuý cho Nguyễn Mai Kiều X, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đức Phổ đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng nên không có căn cứ xử lý.

[7] Đối với đối tượng tên Hx tại ga DT, huyện TP, tỉnh Bình Định là người bán dụng cụ sử dụng ma tuý cho Nguyễn Mai Kiều X, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với bị cáo X nhưng bị cao không xác định được nhân thân, lai lịch, nhận dạng của đối tượng tên Hx nên không có căn cứ xử lý.

[8] Đối với hành vi của Huỳnh Thị Ngọc X cho Nguyễn Mai Kiều X thuê phòng trọ thì không biết việc Nguyễn Mai Kiều X sử dụng làm nơi để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên không đề cập xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu hủy

+ 01 (một) túi ni lông rỗng KT (2,6x01)cm được hàn kín ba đầu; 01 (một) ống hút màu cam rỗng, được vát nhọn một đầu; 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ sọc tr ng rỗng; 01 (một) bật lửa ga màu tím, đã tháo bộ phận bánh xe; 01 (một) bật lửa ga màu xanh tr ng, bên trong có hai hột xí ngầu, đã tháo bộ phận tiếp lửa.

+ 01 (một) chai nước suối, n p màu xanh đục thủng hai lỗ, một lỗ g n ống hút màu xanh.

+ 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cong, một đầu hình phễu (mẫu vật hoàn trả sau khi giám định).

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone (điện thoại đã qua sử dụng) của bị cáo.

[10] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Mai Kiều X nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[12] X t đề nghị của Viện kiểm sát là hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, khoản n, s Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mai Kiều X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mai Kiều X 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày b t bị cáo đi chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 28/9/2021 đến 26/10/2021 vào thời gian chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy

+ 01 (một) túi ni lông rỗng KT (2,6x01) cm được hàn kín ba đầu; 01 (một) ống hút màu cam rỗng, được vát nhọn một đầu; 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ sọc tr ng rỗng; 01 (một) bật lửa ga màu tím, đã tháo bộ phận bánh xe; 01 (một) bật lửa ga màu xanh tr ng, bên trong có hai hột xí ngầu, đã tháo bộ phận tiếp lửa.

+ 01 (một) chai nước suối, n p màu xanh đục thủng hai lỗ, một lỗ g n ống hút màu xanh.

+ 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cong, một đầu hình phễu (mẫu vật hoàn trả sau khi giám định).

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ Iphone (điện thoại đã qua sử dụng) của bị cáo.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày giữa Công an thị xã Đức Phổ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ.)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố

-tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Mai Kiều X phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Mai Kiều X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tuyên án.

Cỡ chữ