vanban.org

Bản án 02/2025/KDTM-ST — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần P đối với Công ty TNHHTMDV V về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá”.

Buộc Công ty TNHHTMDV V có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần P số tiền vận chuyển hàng hoá chưa thanh toán là 264.472.000 đồng (hai trăm sáu mươi tư triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thanh toán số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Công ty cổ phần P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần P đối với Công ty TNHHTMDV V về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM-ST
Ngày 06 – 02 – 2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
vận chuyển hàng hoá”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu;

2. Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Lâm Thuý Vi, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 14/2024/TLST-KDTM ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐST-KDTM ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần P; địa chỉ: Toà nhà P, đường Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy T.

Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Triệu Thị Ngọc G; Địa chỉ: H, phường X, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH TMDV V; địa chỉ trụ sở: Số 2, đường B, khu phố X, phường L, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Dương Thị Cẩm Nh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ KIỆN:

- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Cổ phần P, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Triệu Thị Ngọc G trình bày:

Vào Tháng 4/2023 Công ty cổ phần P (gọi tắt loà Công ty P) có nhận được liên hệ từ Công ty TNHH TM DV V (gọi tắt là Công ty V) về yêu cầu thuê mướn dịch vụ vận chuyển hàng hóa. Sau khi hai bên trao đổi và thỏa thuận, đã có tiến hành ký kết hợp đồng, do khoảng cách địa lý của 2 bên khá xa xôi, nên để thuận tiện cho việc yêu cầu và cung cấp dịch vụ, hai bên có thỏa thuận sẽ nhận yêu cầu dịch vụ qua tin nhắn Zalo. Sau thời gian đầu làm việc, nhận thấy sự uy tín của Công ty TNHH TM DV V, Công ty Cổ phần P đã cho Công ty V được gối đầu công nợ với mức công nợ cao hơn, tuy nhiên đến giai đoạn Tháng 7/2023 thì Công ty V đã bắt đầu có dấu hiệu kéo dài thời gian thanh toán và không thực hiện nghĩa vụ của mình với tổng số tiền công nợ còn lại là 253.782.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm năm mươi ba triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng). Tiền phạt chậm trả phát sinh theo thỏa thuận tính đến hết ngày 31/12/2023 là: 10.690.000 đồng (bằng chữ: Mười triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Chi tiết số tiền nợ mà “Công ty V” nợ và không trả nợ cho Công ty P:

+ Tháng 7: 105.421.608 đồng (theo hóa đơn số: 530)

+ Tháng 8: 83.160.000 đồng (theo hóa đơn số: 606)

+ Tháng 9: 70.200.000 đồng (theo hóa đơn số: 707)

Vào ngày 19/12/2023 Công ty V có thực hiện chuyển trả cho Công ty cổ phần P số tiền là 5.000.000 đồng và sau đó không cón thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào khác. Tổng số tiền mà Công ty V còn nợ Công ty P tính đến ngày 31/12/2023 là 253.782.000 đồng. Ngoài ra, đến đầu năm 2024 thì Công ty P đã hoàn toàn mất liên lạc với công ty V dù Công ty P đã thực hiện gửi email, gọi điện, gửi thư qua đường bưu điện nhưng vẫn không nhận được phản hồi hoặc tinh thần hợp tác nào từ Công ty V.

Do đó Công ty P khởi kiện yêu cầu Tòa án Nhân dân Thị Xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tuyên buộc Công ty TNHH TM DV V phải trả cho Công ty P số tiền còn thiếu là: 253.782.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm năm mươi ba triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm lẻ tám đồng). Tiền phạt chậm trả phát sinh theo thỏa thuận tính đến hết ngày 31/12/2023 là: 10.690.000 đồng (bằng chữ: Mười triệu sáu trăm chín mươi chín đồng). Tài liệu, chứng cứ Công ty P đã nộp cho Tòa án.

- Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng bị đơn Công ty TNHH TMDV V và người đại diện theo pháp luật của Công ty là bà Dương Thị Cẩm Nh không có mặt nên không có ý kiến trình bày.

iểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị x Hòa Thành t nh

Tây Ninh trình bày:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và

Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH TMDV V trả cho Công ty cổ phần P số tiền gốc chưa thanh toán và tiền phạt chậm thanh toán theo quy định.

- Kiến nghị khác: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo đơn khởi kiện Công ty cổ phần P yêu cầu Công ty TNHH TMDV V; địa chỉ trụ sở: Số 2, đường B, khu phố X, phường L, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh trả số tiền dịch vụ vận chuyển hàng còn thiếu 253.782.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm năm mươi ba triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn đồng). Tiền phạt chậm trả phát sinh theo thỏa thuận tính đến hết ngày 31/12/2023 là: 10.690.000 đồng (bằng chữ: Mười triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng). Đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành được quy định tại Điều 30 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện nguyên đơn chị Triệu Thị Ngọc G có đơn xin giải quyết vắng mặt. Công ty cổ phần P cung cấp cho Tòa án địa chỉ của bị đơn Công ty TNHH TMDV V tại Số 2, đường B, khu phố X, phường L, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh. Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết toàn bộ văn bản tố tụng giấy tờ cho Công ty TNHH TMDV V qua địa chỉ nêu trên nhưng theo kết quả xác minh tại tại chỉ trên không có trụ sở Công ty TNHH TMDV V. Do đó, bị đơn vắng mặt do Tòa án không tống đạt được giấy tờ. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện: Công ty P khởi kiện yêu Công ty V trả số tiền dịch vụ vận chuyển hàng hoá còn thiếu và tiền lãi tính đến ngày 31-12-2023 là 264.472.000 đồng. Quá trình tố tụng bị đơn Công ty TNHHTMDV V đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, xem như từ bỏ quyền chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên toà. Theo công văn số 1137/CCT ngày 26/12/2022 của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh cung cấp thông tin Công ty TNHHTMDV V do bà Dương Thị Cẩm Nh là người đại diện theo pháp luật không còn hoạt động tại địa chỉ: Số 2, đường B, khu phố X, phường L, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.

Theo các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là hợp đồng vận chuyển hàng hoá, Phụ lục hợp đồng, Bảng kê cước phí vận chuyển: Tháng 7,8,9/2023, Hoá đơn GTGT số 530, 606, 707; Công văn yêu cầu thanh toán và thông tin gửi qua đường bưu điện, tin nhắn yêu cầu thanh toán nợ qua zalo giữa hai bên thì Công ty TNHHTMDV V còn nợ Công ty Cổ phần P số tiền 253.782.000 đồng. Việc Công ty TNHHTMDV V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm Điều 85 và Điều 87 Luật thương mại; Điều 536 Bộ luật Dân sự và Điều 5 của Hợp đồng số 05042023PS/Thanh Vy ngày 05/4/2023 nên Công ty TNHHTMDV V phải có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần P tổng số tiền 264.472.000 đồng (trong đó 253.782.000 đồng tiền nợ chưa thanh toán và tiền phạt chậm trả phát sinh theo thỏa thuận tính đến hết ngày 31/12/2023 là: 10.690.000 đồng).

Nhận xét, quan điểm và đề xuất nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân

thị xã Hòa Thành là có căn cứ.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần P về tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá là có căn cứ.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHHTMDV V phải chịu 12.233.000 đồng (mười hai triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng) án kinh doanh thương mại sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 91, 92, 144, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 530, 533 và Điều 536 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 85 và Điều 87 Luật Thương mại, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần P đối với Công ty TNHHTMDV V về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển hàng hoá”.

Buộc Công ty TNHHTMDV V có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần P số tiền vận chuyển hàng hoá chưa thanh toán là 264.472.000 đồng (hai trăm sáu mươi tư triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho người được thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời hạn và số tiền chậm trả.

2. Về án phí: Công ty TNHHTMDV V phải chịu số tiền 12.223.000 đồng (mười hai triệu hai trăm hai mươi ba nghìn đồng) đồng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm.

Công ty Cổ phần P không phải chịu tiền án phí, hoàn trả cho Công ty cổ phần P 6.612.000 đồng (sáu triệu sáu trăm mười hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011502 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ